|
THÔNG TƯ Hướng dẫn về thanh toán nợ theo Chỉ thị số 90/CT ngày 20/4/1989 của Chủ tịch HĐBT __________________________ Chấp hành chỉ thị số 90/CT ngày 20/4/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thanh toán nợ giữa các ngành, các địa phương và các tổ chức, đơn vị kinh tế : Ban thanh toán nợ Trung ương hướng dẫn việc tổ chức thực hiện như sau : I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA VIỆC THANH TOÁN NỢ 1/ Giải quyết dứt điểm trong quý II/1989 các khoản nợ, chiếm dụng vốn lẫn nhau phát sinh từ trước đến đến 31/3/1989 ở các đơn vị thuộc ngành, địa phương quản lý nhằm sớm chấm dứt tình trạng nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau, đưa công tác thanh toán trong nền kinh tế trở lại bình thường, đi vào trật tự, nề nếp; tạo điều kiện lập lại kỷ cương, kỷ luật Tài chính-tiền tệ, củng cố hạch toán kinh tế của các đơn vị kinh tế cơ sở. 2/ Thông qua việc thanh toán nợ, Nhà nước giải quyết dứt những khoản chưa cấp cho các đơn vị; đồng thưòi thu về những khoản còn tồn đọng tại các đơn vị kinh tế cơ sở để có nguồn giải quyết cho các nhu cầu chi cấp bách, phục vụ thực hiện kịp thời các nhiệm vụ kinh tế-xã hội. 3/ Kết hợp chặt chẽ việ thanh toán nợ với việc xử lý vật tư, tài sản tổn thất, kém mất phẩm chất, tồn kho ứ đọng, các khoản tạm ứng, cho vay... để tạo nguồn giải quyết vốn hoạt động và thanh toán nợ, kể cả các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước. 4/ Thông qua việc thanh toánnợ kỳ này, các ngành cức năng có trách nhiệm nghiên cứu để bổ xung, hoàn chỉnh các văn bản pháp quy về công tác thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, nhằm đề ra biện pháp để nâng cao trách nhiệm cho các đơn vị kinh tế cơ sở chấp hành kỷ luật thanh toán, kỷ luật nộp ngân sách và tiền mặt; đồng thời càn có các hướng dẫn cần thiết trong việc khôi phục, củng cố các tổ chức làm chức năng thanh toán thuộc hệ thông tài chính và Ngân hàng. II. CHỨC TRÁCH NHIỆM VỤ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ, CỦA CÁC BỘ VÀ UBND CÁC ĐỊA PHƯƠNG, CỦA BAN THANH TOÁN NỢ TƯ 1/ Trách nhiệm của đơn vị tổ chức kinh tế : Trách nhiệm chủ yếu trong việc thanh toán nợ kỳ này, trước hết thuộc các đơn vị, tổ chức kinh tế cơ sở. Vì vậy kế toán trưởng giúp thủ trưởng đơn vị cơ sở tiến hành ngay việc rà soát, thống kê chính xácvà khẩn trương triển khai đối chiếu, xác nhận ( chậm nhất cuối tháng 5/1989 phải xong ) các khoản nợ nần dây dưa, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa đơn vị mình với các đơn vị khác trong nội bộ ngành hoặc ngoài ngành, kẻ cả các khoản phải nộp ngân sách mà chưa nộp và các khoản ngân sách phải cấp cho đơn vị mà chưa được cấp ( bù lỗ, vốn XDCB, vốn sự nghiệp... ) .Từ đó đơn vị chủ động đề ra các biện pháp tích cực, đôn đốc đòi nợ và tìm nguồn giải quyết cụ thể từng khoản còn nợ các đơn vị khác. Các đơn vị kinh tế cơ sở phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật thanh toán hiện hành. Thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật báo cáo định kỳ và khi kết thúc quá trình thanh toán nợ cho ngành chủ quản và Ban thanh toán nợ cùng cấp. Trong báo cáo phải nêu cụ thể các đơn vị đang nợ hoặc chiếm dụng vốn của đơn vị khác ( kể cả các khoản phải nộp ngân sách mà chưa nộp ) và các khoản đơn vị bị đơn vị khác nợ hoặc chiếm dụng ( kể cả các khoản ngân sách phải cấp cho đơn vị mà chưa được cấp ) ; Kết quả thanh toán nợ qua từng thời gian; nêu những khó khăn trở ngại cụ thể trong việc thanh toán nợ và kiến nghị biện pháp xử lý. Thông qua thanh toán nợ kỳ này , đơn vị cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể, tích cực để khôi phục, củng cố , hoàn thiện công tác thanh toán của đơn vị ; đồng thời đề xuất, kiến nghị cụ thể với Nhà nước về những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ xung các văn bản pháp quy về công tác thanh toán. 2/ Trách nhiệm của cơ quan quản lý cấp trên ( Bộ, Tổng cục ở Trung ương ? Sở chủ quản .....ở địa phương ) Ngành chủ quản thành lập Ban thanh toán nợ để giúp Bộ trưởng ( Thủ trưởng ngành) chỉ đạo công tác thanh toán nợ ở các đơn vị kinh tế, cơ sở trực thuộc ngành quản lý, tổ chức thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thanh toán nợ trong ngành. Ban thanh toán nợ của Bộ, Tổng cục.... ở Trung ương ; Sở chủ quản ở địa phương có nhiệm vụ cụ thể sau: - Hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ các đơn vị, cơ sở tổ chức thanh toán nợ trong nội bộ ngành, tổ chức xử lý các khoản nợ vướng mắc và biện pháp thanh toán bù trừ nợ giữa các đơn vị trong nội bộ ngành ; phối hợp với các ngành khác và cơ quan Ngân hàng, Tài chính cùng cấp để giải quyết các khoản nợ, chiếm dụng vốn lẫn nhau ngoài khả năng xử lý của ngành. Đối với các khảon nợ lẫn nhau mà Ban thanh toán nợ của ngành không xử lý được thì báo cáo lên Ban thanh toán nợ Trung ương ( đối với các Bộ trung ương) hoặc Ban thanh toán nợ địa phương ( đối với các ngành trực thuộc địa phương) để phối hợp xử lý. - Giúp các đơn vị cơ sở tiến hành xử lý các khoản tổn thất phát hiện qua thanh toán nợ, thu hồi các khoản tạm ứng, cho vay khê đọng lâu ngày, các biện pháp giải quyết vật tư, sản phẩm hàng hoá tồn kho ứ đọng.... - Đôn đốc các đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luât báo cáo về thanh toán nợ. Có trách nhiệm tổng hợp tình hình thanh toán nợ của các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc ngành quản lý để báo cáo lãnh đạo Bộ và Ban thanh toán nợ của Trung ương ( nếu là các Ban thanh toán nợ của Bộ, Tổng cục... ở Trung ương ) hoặc báo cáo lãnh đạo Sở... và Ban thanh toán nợ ở địa phương ( nếu là Ban lãnh thanh toán nợ cuả các Sở ... ở địa phương ) - Qua chỉ đạo, theo dõi thanh toán nợ của các đơn vị kinh tế thuộc phạm vi quản lý, Ban thanh toán nợ của ngành chủ quản cần nghiên cứu kiến nghị với thủ trưởng ngành các biện pháp chấn chỉnh công tác thanh toán của các đơn vị kinh tế trong ngành ; đồng thời đề xuất, kiến nghị với Nhà nước những điểm cụ thể cần bổ sung , sửa đổi các văn bản pháp quy về công tác thanh toán. 3/ Trách nhiệm của Ban thanh toán nợ của UBND tỉnh, thành phố, đặc khu : Uỷ ban Nhân dân tỉnh , thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thanh toán nợ giữa các ngành, các đơn vị kinh tế cơ sở trong địa phương. Để làm tốt nhiệm vụ trên Uỷ ban Nhân dân tỉnh , thành phố, đặc khu cần thành lập ban thanh toán nợ ở địa phương, gồm cán bộ có năng lực của các ngành ; Tài chính, Ngân hàng, uỷ ban kế hoạch, Vật giá ... Ban thanh toán nợ của địa phương có những nhiệm vụ cụ thể như sau : - Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc giúp đỡ các ngành trong địa phương tổ chức thựuc hiện thanh toán nợ. Giúp các ngành phối hợp xử lý các vụ vướng mắc về nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc phạm vi địa phương quản lý. - Hướng dẫn, giúp đỡ các ngành trong việc xử lý, thanh lý các khoản tổn thất phát sinh quan thanh toán nợ ; các biện pháp tích cực giải phóng vật tư, sản phẩm hàng hoá tồn kho, ứ đọng ... Phối hợp với các ngành Trung ương để xử lý các trường hợp thanh toán nợ có liên quan giữa các ngành , các đơn vị kinh tế địa phương với các ngành, các đơn vị kinh tế do Trung ương quản lý, cùng với cơ quan Ngân hàng và Tài chính địa phương xử lý các trường hợp thanh toán nợ có liên quan đến Ngân sách và tín dụng. Đối với những kkhoản nợ lẫn nhau ( giữa các đơn vị trực thuộc địa phương với các đơn vị trực thuộc các Bộ, ngành ở Trung ương hoặc với các đơn vị trực thuộc địa phương) mà Ban thanh toán nợ báo cáo lên Ban thanh toán nợ Trung ương để cùng xử lý. - Đôn đốc các ngành trong địa phương thực hiện nghiêm chỉnh kỷ Ban thanh toán nợ kỷ luật báo cáo về thanh toán nợ ; Tổng hợp tình hình thanh toán nợ của các ngành ở địa phương để báo cáo tuần lý theo quy định của Ban thanh toán nợ Trung ương., giử báo cáo số cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân và Ban thanh toán nợ Trung ương. - Qua việc chỉ đạo thanh toán nợ ở địa phương, cần nghiên cứu để kiến nghị cụ thể với Uỷ ban Nhân dân tỉnh việc chấn chỉnh công tác thanh toán ở các đơn vị cơ sở và việc củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy thanh toán thuộc hệ thống ngân hàng và tài chính ở địa phương ; đồng thời có trách nhiệm đề xuất các kiến nghị cụ thể với Nhà nước những điểm cần sửa đổi, bổ xung hoàn chỉnh các văn bản pháp quy về công tác thanh toán. 4/ Trách nhiệm của Ban thanh toán nợ Trung ương Các nhiệm vụ chủ yếu của Ban thanh toán nợ Trung ương đã được nêu cụ thể trong chỉ thị số 90/CT ngày 20/4/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nay cụ thể hoá thêm một số nhiệm vụ như sau : - Hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc giúp đỡ các Bộ, Ngành ở Trung ương và địa phương tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ thị số 90/CT. Phối hợp với các Ban thanh toán nợ của Bộ, Tổng cục ... ở Trung ương và các Ban thanh toán nợ của Uỷ ban Nhân dân địa phương để xử lý các trường hợp thanh toán nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các đơn vị kinh tế có liên quan đến nhiều Bộ khác nhau giữa trung ương và địa phương, giữa các địa phương với nhau ... ( chỉ xử lý các vụ thanh toán nợ mà Ban thanh toán nợ ở các cấp không xử lý được ). Những trường hợp Ban thanh toán nợ trung ương cũng không xử lý được thì phải báo cáo lên Hội đồng Bộ trưởng xem xét và quyết định chủ trương xử lý. Cùng với cơ quan Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính tiến hành giải quyết các trường hợp thanh toán nợ có liên quan đến ngân sách Trung ương. - Hướng dẫn mẫu biểu, quy định thời hạn cụ thể để báo các Ban thanh toán nợ của Bộ, ngành, địa phương báo cáo về kết quả thanh toán nợ ở các Bộ, ngành, địa phương qua từng thời gian. Trên cơ sở báo cáo của Bộ, ngành, địa phương, Ban thanh toán nợ Trung ương lập báo cáo tuần kỳ gửi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. - Qua công tác chỉ đạo thanh toán nợ ở các Bộ, ngành, địa phương trong phạm vi cả nước. Ban thanh toán nợ Trung ương cần tổng hợp tình hình thực tế, nghiên cứu và đề xuất cụ thể với Nhà nước việc sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh các văn bản pháp quy về công tác thanh toán trong nền kinh tế quốc dân. Kiến nghị với Nhà nước và các ngành chức năng về các biện pháp cụ thể để khôi phục, chấn chỉnh, củng cố tổ chức bộ máy làm chức năng thanh toán thuộc hệ thông tài chính và Ngân hàng ở các cấp. III. MỘT SỐ QUY ĐỊNH TRONG CÔNG TÁC THANH TOÁN 1/ Tổ chức đối chiếu vvà tiến hành thanh toán nợ. a) Các ngành, các tổ chức kinh tế cơ sở, cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể, Hội quần chúng, các đơn vị lực lượng vũ trang phải rà soát, nắm thật chắc tình hình và số liệu về các khoản mình nợ hoặc chiếm dụng vốn của các đơn vị khác và các khoản bị các đơn vị khác nợ hoặc chiếm dụng ( các khoản phải thu, phải trả ). Trên cơ sở đó tiến hành đối chiếu , xác nhận nợ lẫn nhau và cùng thống nhất biện pháp định thời han, thể thức thanh toán dứt điểm từng khoản một. Nếu bên nào vi phạm, thanh toán chậm ( kể cả các quan hệ với ngân sách ) thì đều phải chịu phạt chậm trả bằng với mức lãi suất cho vay của Ngân hàng đối với đơn vị đó. Bên mắc nợ không được viện bất cứ lý do gì để trì hoãn việc đối chiếu, xác nhận nợ. Quá thời hạn nhất định, kể từ ngày đơn vị chủ nợ yêu cầu đối chiếu mà đơn vị mắc nợ không đối chiếu thì coi như đã công nhận khoản nợ đó và phải thanh toán; nếu đơn vị mắc nợ cố tình kéo dài thời gian thanh toán thì phải chịu phạt theo mức lãi xuất cho vay của Ngân hàng tính trên số nợ kể từ ngày chủ nợ yêu cầu đối chiếu công nợ lần cuối cùng hoặc ngày đòi thanh toán nợ lần cuối cùng. - Căn cứ vào biên bản đã đối chiếu, xác nhận nợ, đơn vị chủ nợ làm thủ tục đòi tiền qua Ngân hàng phục vụ đơn vị đó. Sau thời hạn tối đa 5 ngày kể từ ngày Ngân hàng chuyển giao giấy đòi nợ cho đơn vị mắc nợ mà đơn vị không trả tiền hoặc không có giấy báo đến Ngân hàng về lý do chính đáng để từ chối thanh toán thì Ngân hàng có quyền trích tài khoản tiền gửi của đơn vị để chuyển cho đơn vị chủ nợ theo chứng từ đã gửi đến. Nếu sau đó xảy ra tranh chấp thì hai bên chủ nợ và mắc nợ tự giải quyết với nhau hoặc đưa ra cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. - Đối với các khoản nợ phải đòi, sau khi đối chiếu, nếu đơn vị mắc nợ chưa thừa nhận hoặc còn tranh chấp thì 2 bên ký biên bản ghi rõ lý do không chấp nhận toàn bộ hoặc một phần khoản nợ đó. Phần nợ đã chấp nhận thì phải thanh toán ngay. Các khoản còn tranh chấp thì chủ nợ đưa ra Hội đồng trọng tài kinh tế xem xét, xử lý. b) Các khoản nợ phải đòi đã mất chứng từ, sổ sách không còn có cơ sở để xác nhận đơn vị mắc nợ, hoặc các khoản nợ mà người mắc nợ đã chết, hoặc những khoản nợ không có địa chỉ để đòi hoặc những trường hợp không thể thu hồi được nợ thì đơn vị chủ nợ phải lập hồ sơ cụ thể từng trường hợp để lập Hội đồng xử lý hoặc báo cáo cơ quan chủ quan cấp trên và cơ quan tài chính, Ngân hàng cùng cấp để giải quyết theo trách nhiệm và quyền hạn được Nhà nước quy định. c) Các khoản nợ phải đòi mà đơn vị mắc nợ đã giải thể, phân tán hoặc sát nhập thì đơn vị chủ nợ phải liên hệ với cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp của đơn vị mắc nợ hoặc cơ quan tiếp nhận đơn vị đó để yêu cầu đối chiếu xác nhận và thanh toán. Các cơ quan chủ quản trên trực tiếp hoặc cơ quan tiếp nhận tài sản đơn vị đã giải thể, phân tán hoặc sát nhập phải chịu trách nhiệm thay đơn vị mắc nợ đối chiếu để xác nhận và thanh toán. Trường hợp không còn cơ quan chủ quản hoặc không có đơn vị nào tiếp nhận tài sản thì giải quyết như điểm b) trên đây. d) Trường hợp các khoản nợ phải trả đã được xác định là không có người nhận hoặc do chủ nợ là đơn vị thuộc kinh phí NSNN đã cấp trong những năm trước thì đơn vị mắc nợ nộp các khoản phải trả đó vào NSNN; đồng thời thông báo cho chủ nợ biết ( đơn vị hành chính - sự nghiệp ). e) Trường hợp giữa các đơn vị nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau thì trước hết tiến hành các thủ tục cần thiết thanh toán bù trừ cho nhau ; Trường hợp đơn vị vừa nợ các khoản phải nộp ngân sách, vừa có các khoản ngân sách phải cấp cho đơn vị thì trước hết có thể tiến hành các thủ tục cần thiết " ghi thu, ghi chi" qua ngân sách. Trường hợp các đơn vị nợ lẫn nhau mà trong đó có đơn vị còn nợ các khoản phải nộp ngân sách, có đơn vị lại có những khoản ngân sách phải cấp thì cũng có thể tiến hành các thủ tục cần thiết " ghi thu, ghi chi" qua ngân sách để thanh toán lẫn nhau đối với các khoản có điều kiện và khả năng thực hiện được. 2/ Biện pháp giả quyết vốn để thanh toán nợ : Các đơn vị dựa trên bảng tổng kế tài sản ở thời điểm 31/3/1989 để phân loại công nợ phải thu, phải trả ; xác định các hình thức ; dùng nguồn vốn tự có hoặc đi vay để thanh toán ; đề nghị cơ quan tài chính cấp phát để thanh toán ( những khoản nợ có liên quan đến ngân sách ). Đơn vị phải có trách nhiệm và chủ động trong thanh toán nợ , trước hết cần tích cực đối với các khoản bị nợ, bị chiếm dụng , thu hồi các khoản tạm ứng, cho vay ... đồng thời có biện pháp khẩn trương thanh, xử lý vật tư, tài sản tồn kho ứ đọng lâu ngày, kém, mất phẩm chất hoặc không cần dùng ... giải phóng vật tư, sản phẩm hàng hoá chậm luân chuyển, tồn khao vượt quá định mức ... để tạo nguồn vốn hoạt động, thanh toán nợ nần lẫn nhau và giảm nợ vay ngân hàng. Trường hợp giữa các đơn vị, các ngành, giữa Trung ương và địa phương mắc nợ nhau bằng các loại đồng tiền ngoại tệ khác nhau thì tiến hành thanh toán với nhau bằng đồng ngoại tệ ( nếu có ) hoặc có thể dựa vào tỷ giá các loại ngoại tệ đó với tiền đồng Việt nam do ngân hàng công bố để thanh toán với nhau bằng tiền Việt nam. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN Các Bộ, Tổng cục ... ở Trung ương, UBND các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có kế hoạch và biện pháp cụ thể tổ chức hướng dẫn và chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị trực thuộc mình quản lý khẩn trương triển khai ngay đợt thanh toán nợ nần dây dưa, chiếm dụng vốn lẫn nhau theo đúng tinh thần và nội dung chỉ thị số 90/CT ngày 20/4/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn này. Thành lập ngay các Ban thanh toán nợ của các ngành, các cấp để hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thanh toán nợ giữa các đơn vị, các tổ chức kinh tế thuộc phạm vi quản lý của từng ngành, từng địa phương và tổ chức xử lý thanh toán nợ giữa các đơn vị trong ngành, giữa các ngành trong địa phương. Tuần kỳ 10 ngày và khi kết thúc đợt thanh toán nợ, các Ban thanh toán nợ của ngành, địa phương cần tổng hợp và lập báo cáo về tình hình thanh toán nợ để gửi cho Ban thanh toán nợ của cấp trên ( bằng văn bản và biểu số liệu theo mẫu đính kèm thông tư này ). Trong quá trình thực hiện, nếu có gì khó khăn vướng mắc, đề nghị các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở phản ánh cụ thể về Ban thanh toán nợ Trung ương để nghiên cứu có ý kiến giải quyết kịp thời ./. |
Thông tư
Hướng dẫn về thanh toán nợ theo Chỉ thị số 90/CT ngày 20/4/1989 của Chủ tịch HĐBT
Số hiệu: 13/TCĐN
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 11/5/1989
- Ngày hiệu lực
- 11/5/1989
- Người ký
- Lý Tài Luận
- Chức danh người ký
- Thứ trưởng
- Lĩnh vực
- Quản lý vay nợ, trả nợ trong nước, ngoài nước của Chính phủ, nợ của khu vực công, nợ quốc gia và nguồn viện trợ quốc tế
Còn hiệu lựcThông tư
Văn bản liên quan
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng lĩnh vực: Quản lý vay nợ, trả nợ trong nước, ngoài nước của Chính phủ, nợ của khu vực công, nợ quốc gia và nguồn viện trợ quốc tế
71/2023/TT-BTC•Bộ Tài chính
Bãi bỏ Thông tư số 56/2011/TT-BTC ngày 29 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài chính Hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia
Còn hiệu lựcBan hành: 21/11/2023Thông tư
490/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Về việc phê duyệt danh mục khoản vay ODA thực hiện hạng mục tư vấn giám sát quốc tế đối với 06 Dự án thuộc Hiệp định vay vốn giai đoạn 2 của Chương trình tín dụng hỗn hợp Na Uy/KFW
Còn hiệu lựcBan hành: 13/4/2015Quyết định
90/2011/NĐ-CP•Chính phủ
Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Còn hiệu lựcBan hành: 14/10/2011Nghị định
88/2005/QĐ-UBND•UBND tỉnh Hà Tĩnh
Về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Còn hiệu lựcBan hành: 28/10/2005Quyết định
3305/2004/QĐ-UB•Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Về việc ban hành Quy chế thực hiện công tác cho vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm tỉnh Bến Tre.
Còn hiệu lựcBan hành: 27/8/2004Quyết định
19/2003/NQ-HĐND•Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình
Về việc xóa nợ cho các đơn vị vay quỹ dự trữ tài chính tỉnh đã giải thể, nợ lâu ngày không có khả năng thanh toán
Còn hiệu lựcBan hành: 31/12/2003Nghị quyết
Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính
31/2026/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính
Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTС•Bộ Tài chính
Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTC•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC
Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTС•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC
Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
02/VBHN-BTС•Bộ Tài chính
Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản
Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
01/VBHN-BTC•Bộ Tài chính
Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước
Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.