|
THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn việc sử dụng kinh phí và định các mức trợ cấp trong công tác đắp đê năm 1960 ________________________ Thi hành Thông tư số 023-TTg ngày 18-01-1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành chế độ dân công trong công tác đắp đê nam 1960, Liên bộ đã ra Thông tư số 5-LB/TT ngày 27-01-1960 để hướng dẫn một số điểm cụ thể. Nay một số địa phương còn gặp lúng túng trong việc áp dụng mức trợ cấp vào hoàn cảnh cụ thể từng vùng. Liên bộ giải thích cách phân phối kinh phí và định mức trợ cấp sau đây để các khu, tỉnh, thành nghiên cứu thi hành gấp, khỏi trở ngại đến công tác đắp đê. Chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước trong công tác đắp đê năm 1960 là 10 triệu mét khối đất và 6 triều đồng kinh phí. Việc sử dụng kinh phí và định các mức trợ cấp nhằm đạt hai mục đích chính: 1. Bảo đảm kế hoạch Nhà nước (khối lượng, chất lượng và thời hạn). 2. Bảo đảm tiền trợ cấp vào tay dân công. Muốn thế, phải đề ra những nguyên tắc phân phối khối lượng và kinh phí một cách hợp tình hợp lý, mặt khác phải lãnh đạo phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật (dụng cụ, tổ chức) để tăng năng suất. Thông tư trước (số 5) của Liên bộ có nhấn mạnh tiền trợ cấp đắp đê không được dùng vào công tác khác ngoài công tác đắp đê theo kế hoạch của Trung ương và phải dành phần lớn để thù lao dân công. Mỗi người đi đắp đê phải được hưởng một số tiền thù lao nhất định tùy theo khối lượng đất đã thực hiện và không phải bình nghị. Đó là nguyên tắc phân phối theo kế quả lao động vừa để bảo đảm kế hoạch vừa gây phấn khởi hào hứng đẩy mạnh năng suất. Để bảo đảm tất cả tiền đắp đê đưa xuống hết địa phương, Bộ Thủy lợi căn cứ vào điều kiện đắp đê khó dễ, cao thấp, xa gần của các các triền đê mà phân ra 3 mức trợ cấp bình quân: 1. Loại dễ: 1 mét khối, trợ cấp 0đ50 2. Loại khó: 1 mét khối, trợ cấp 0đ60 3. Loại đặc biệt khó: 1 mét khối, trợ cấp 0đ70 và tính toán xét cấp kinh phí tùy theo khối lượng từng loại đê của các khu, tỉnh và thành. Mỗi khu, tỉnh, thành sẽ căn cứ vào kinh phí được Bộ Thủy lợi cấp, vào khối lượng và điều kiện đắp đê khó, dễ, cao, thấp, gần, xa đúng vào thực tế từng vùng, từng nơi trong mỗi triền đê mà phân ra nhiều mức trợ cấp. Nơi nào dễ làm năng suất bình quân cao, thì mức trợ cấp theo thước khối sẽ ít; nơi nào khó lắm, năng suất bình quân thấp, thì mức trợ cấp theo thước khối sẽ nhiều hơn, cứ như thế bù qua sát lại để bảo đảm cấp phát tối thiểu 83% tổng số kinh phí vào tay dân công và thu hoạch của mỗi ngày công sẽ tương đương nhau trên các công trường nếu đạt được năng suất bình quân. Số tiền dành lại cho mọi khoản gián tiếp phí và quản lý phí (bao gồm các khoản bồi thường, tuyên truyền thi đua, thuốc men, tai nạn, mua sắm dụng cụ, xe, tàu vận chuyển, khó khăn đột xuất...) không được quá 17% tổng số kinh phí. Tính toán cân đối và quy định các mức trợ cấp xong thì ở từng công trường phải công bố mức trợ cấp 1 thước khối đất cho dân công biết. Đối với địa phương nào nhờ công tác chính trị tốt, sinh hoạt của nhân dân tương đối khá, dân công hăng hái phấn khởi đắp đê bảo đảm khối lượng chất lượng và thời hạn, lại thật sự tự nguyện tự giác không nhận trợ cấp hoặc nhận một mức ít hơn mức trợ cấp đã công bố, thì khu, tỉnh hoặc thành không nên từ chối mà phải báo cáo cho Liên bộ biết, đồng thời phải nộp số kinh phí dôi ra vào công quỹ chứ không được dùng cho địa phương khác hoặc cho việc khác. Đây là trường hợp hãn hữu và phải dựa trên cơ sở nhiệm vụ đắp đê và các mức trợ cấp đã được công bố rõ ràng, dân công thật sự tự nguyện, tuyệt đối không vận động một cách gò ép. Các khu tỉnh và thành phải hoàn thành nhiệm vụ tốt để bảo đảm khối lượng chất lượng và thời hạn, nhưng không được xin thêm kinh phí vì Bộ Thủy lợi đã phân phối hết số kinh phí Nhà nước quy định cho công tác đắp đê năm 1960. Trong quá trình công tác, cán bộ công trường phải ra sức lãnh đạo động viên thi đua và giao khoán cho dân công. Về phần xã và dân công thì phải có trách nhiệm nhận khoán, hăng hái thi đua cải tiến dụng cụ, cải tiến tổ chức và kỹ thuật, tăng hiệu suất lao động để bảo đảm thực hiện vượt mức kế hoạch tỉnh, huyện đã giao cho. |
Thông tư liên tịch
Hướng dẫn việc sử dụng kinh phí và định các mức trợ cấp trong công tác đắp đê năm 1960
Số hiệu: 06-LB/TT
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 5/2/1960
- Ngày hiệu lực
- 5/2/1960
- Người ký
- Trần Quý Kiên
- Chức danh người ký
- Thứ trưởng
- Lĩnh vực
- Quản lý ngân sách
Còn hiệu lựcThông tư liên tịch
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng lĩnh vực: Quản lý ngân sách
06/2018/TT-BTC•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2017/TT-BTC ngày 18 tháng 4 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định tạm úng ngân quỹ nhà nước cho ngân sảch nhà nước
Còn hiệu lựcBan hành: 24/1/2018Thông tư
129/2017/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định tiêu chí đánh giá kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi thường xuyên
Còn hiệu lựcBan hành: 4/12/2017Thông tư
55/2017/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định chi tiết về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội
Còn hiệu lựcBan hành: 19/5/2017Thông tư
47/2017/TT-BTC•Bộ Tài chính
Hưóng dẫn hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ
Còn hiệu lựcBan hành: 15/5/2017Thông tư
327/2016/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí được trích từ các khoản thu hồi phát hiện qua công tác thanh tra đã thực nộp vào ngân sách nhà nước
Còn hiệu lựcBan hành: 26/12/2016Thông tư
70/2016/TTLT-BTC-TTCP•Bộ Tài chính
Quy định việc lập, quản lý và sử dụng quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng
Còn hiệu lựcBan hành: 6/5/2016Thông tư liên tịch
Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính
31/2026/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính
Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTС•Bộ Tài chính
Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTC•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC
Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTС•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC
Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
01/VBHN-BTC•Bộ Tài chính
Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước
Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
02/VBHN-BTС•Bộ Tài chính
Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản
Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.