|
THÔNG TƯ
CỦA BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI SỐ 540/TBXH Trong Chỉ thị số 251-CT ngày 24-9-1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có bổ sung một số điểm về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công nhân viên chức đi công tác dài hạn ở Cam-pu-chia: "Thời gian công tác dài hạn ở Cam-pu-chia được tính bằng 1,5 lần khi tính thời gian công tác để xét điều kiện về hưu, mất sức lao động và khen thưởng". Trong điều khoản thi hành chỉ thị có điểm: - "Chế độ này chỉ thi hành với những cán bộ được giao nhiệm vụ đi công tác dài hạn (3 năm trở lên) ở Cam-pu-chia, hoặc những cán bộ, công nhân viên chức phục vụ dài hạn (3 năm trở lên) đoàn chuyên gia của ta ở Cam-pu-chia". - "Chế độ này có giá trị thi hành từ ngày ký văn bản". Bộ Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện những điểm đã quy định nói trên cho công nhân, viên chức khi về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động như sau: 1. Kể từ ngày 24 tháng 9 năm 1982, những cán bộ, công nhân, viên chức thuộc diện quy định tại điều khoản thi hành của Chỉ thị số 251-CT nói trên về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động, được tính thời gian công tác dài hạn (3 năm trở lên) ở Cam-pu-chia bằng 1,5 lần để xét điều kiện về hưu, mất sức lao động và để tính trợ cấp hưu trí, trợ cấp mất sức lao động một lần và hàng tháng. (Nếu có trường hợp nào do ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia quyết định về trước thời hạn đó thì vẫn là đối tượng thi hành Chỉ thị số 251-CP và phải có quyết định kèm theo). Cán bộ, công nhân viên chức sang công tác ở Cam-pu-chia để làm từng việc cụ thể trong một thời gian ngắn (dưới 3 năm) thì không áp dụng cách tính theo hệ số 1,5 nói trên. Ví dụ: a) Đồng chí A có 8 năm công tác liên tục, tháng 8 năm 1982 nghỉ việc vì mất sức lao động, trong 8 năm công tác có 4 năm được giao nhiệm vụ công tác dài hạn ở Cam-pu-chia. Theo quy định 4 năm công tác dài hạn ở Cam-pu-chia được tính bằng 1,5 lần (tức 6 năm). Đồng chí A được tính trợ cấp mất sức lao động một lần và trợ cấp hàng tháng theo thời gian công tác liên tục là 10 năm (không phải là 8 năm). b) Đồng chí B 55 tuổi và có 13 năm 6 tháng công tác liên tục trong đó có 2 đợt đi công tác dài hạn ở Cam-pu-chia: một đợt đủ 3 năm, một đợt đủ 2 năm. Như vậy đợt đủ 3 năm được tính bằng 1,5 lần (tức 4 năm 6 tháng) và đồng chí B có 15 năm công tác liên tục nên thuộc diện hưởng chế độ hưu trí (không phải hưởng chế độ mất sức lao động) và được tính trợ cấp một lần khi mới nghỉ việc và trợ cấp hàng tháng theo thời gian 15 năm công tác liên tục (không phải 13 năm 6 tháng). c) Đồng chí C có 22 năm công tác liên tục, trong đó có hai đợt đi công tác dài hạn ở Cam-pu-chia, mỗi đợt đều đủ 3 năm. Như vậy cả hai đợt đều tính bằng 1,5 lần (tức 9 năm). Vậy đồng chí C có 25 năm công tác liên tục nên đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, và được tính trợ cấp một lần khi mới nghỉ việc, trợ cấp hàng tháng theo thời gian 25 năm công tác liên tục. 2. Khoản trợ cấp theo Điều 8 của Quyết định số 21-HĐBT ngày 8-8-1981 của Hội đồng Bộ trưởng vẫn tính như cũ (không tính bằng 1,5 lần). Ví dụ trường hợp đồng chí B nói ở trên thì khoản trợ cấp theo Điều 8 của Quyết định số 21-HĐBT vẫn tính theo số năm công tác ở Cam-pu-chia (một đợt đủ 3 năm, một đợt đủ 2 năm cộng lại là 5 năm, như vậy trợ cấp 5 tháng lương). 3. Đối với những cán bộ, công nhân viên chức đã về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động từ ngày 24 tháng 9 năm 1982 trở đi (ngày ban hành Chỉ thị số 251-CT), nếu khi tính lại thời gian công tác dài hạn ở Cam-pu-chia bằng 1,5 lần có được tăng số tiền trợ cấp một lần khi mới nghỉ việc (trợ cấp một lần quy định ở Quyết định số 296-CP ngày 20-11-1978 của Hội đồng Chính phủ), hoặc tăng số tiền trợ cấp hàng tháng, thì Sở thương binh và Xã hội nơi đương sự cư trú sẽ làm điều chỉnh và trả số tiền chênh lệch đó. Trường hợp đã hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng với mức tối đa (tức là không thay đổi mức trợ cấp) thì không cần thiết phải làm điều chỉnh. Đối với lực lượng vũ trang, Hội đồng Bộ trưởng đã chỉ thị Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ trình bổ sung. Khi có quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Thương binh và Xã hội sẽ có văn bản hướng dẫn thực hiện.
|
Thông tư
Hướng dẫn tính trợ cấp hưu trí, mất sức lao động đối với công nhân viên chức đi công tác dài hạn ở Campuchia
Số hiệu: 540/TBXH
- Cơ quan ban hành
- Bộ Thương binh và xã hội
- Ngày ban hành
- 26/11/1982
- Ngày hiệu lực
- 11/12/1982
- Người ký
- Nguyễn Kiện
- Chức danh người ký
- Bộ trưởng
Hết hiệu lực toàn bộThông tư
Văn bản này đã hết hiệu lực
Vui lòng tra cứu văn bản thay thế trước khi áp dụng.
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng cơ quan ban hành: Bộ Thương binh và xã hội
48/TBXH•Bộ Thương binh và xã hội
Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 236-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 18/9/1985
Còn hiệu lựcBan hành: 30/9/1985Thông tư
44-TBXH/VHC/LB•Bộ Thương binh và xã hội
Hướng dẫn thực hiện chủ trương của Hội đồng Nhà nước về việc tặng thưởng huân chương độc lập cho các gia đình có nhiều liệt sĩ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc
Còn hiệu lựcBan hành: 8/4/1985Thông tư liên tịch
5/TBXH•Bộ Thương binh và xã hội
Hướng dẫn bổ sung việc trợ cấp tiền tầu, xe cho công nhân viên chức và quân nhân về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động
Còn hiệu lựcBan hành: 30/4/1983Thông tư
2/TBXH•Bộ Thương binh và xã hội
Hướng dẫn thi hành Quyết định số 9-HĐBT ngày 19/1/1983 của Hội đồng Bộ trưởng
Còn hiệu lựcBan hành: 21/1/1983Thông tư
1/TBXH•Bộ Thương binh và xã hội
Sửa đổi tiền chôn cất
Còn hiệu lựcBan hành: 1/1/1983Thông tư
6/TT-LB•Bộ Thương binh và xã hội
Về nâng cao chất lượng học tập và tổ chức hướng nghiệp cho con liệt sĩ trong tình hình hiện nay
Còn hiệu lựcBan hành: 16/6/1982Thông tư liên tịch
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.