Thông tư

Quy định chế độ trợ cấp tiền tàu xe cho cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước trong các trường hợp đi khám bệnh, điều trị, đi nghỉ phép và thôi việc về quê quán

Số hiệu: 206-TT/HCVX

Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
17/10/1969
Ngày hiệu lực
1/1/1970
Người ký
Trịnh Văn Bính
Chức danh người ký
Thứ trưởng
Lĩnh vực
Tài chính hành chính sự nghiệp
Còn hiệu lựcThông tư

THÔNG TƯ

Quy định chế độ trợ cấp tiền tàu xe cho cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước trong các trường hợp đi khám bệnh, điều trị, đi nghỉ phép và thôi việc về quê quán

________________________

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

Kính gửi

- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc hội đồng chính phủ
- Các đoàn thể ở trung ương.
- Các ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ngày 06/01/1968, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 04-TT/HCVX quy định chế độ phụ cấp cho cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước khi đi công tác ở trong nước (gọi tắt là công tác phí).

Vận dụng thông tư nói trên vào các trường hợp không coi là đi công tác (đi khám bệnh, điều trị, đi nghỉ phép, thôi việc trở về quê quán) và để thuận tiện cho việc thi hành thông tư, nay tổng hợp, bổ sung các quy định trước đây của Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Bộ Tài chính, sau khi đã thống nhất ý kiến giữa các Bộ nói trên và Tổng công đoàn Việt Nam.

I. TRƯỜNG HỢP ĐI KHÁM BỆNH ĐIỀU TRỊ

1. Phụ cấp tiền tàu xe.

Công nhân, viên chức nam, nữ đau ốm (kể cả trường hợp bị tai nạn) được đi khám bệnh điều trị, hoặc được cơ quan, xí nghiệp giới thiệu đi lắp chân giả, mắt giả… nữ công nhân, viên chức đi khám phụ khoa, khám thai, đi điều trị vì sẩy thai hoặc đi đẻ,… khi đi và về cũng như khi chuyển viện, ra viện, đều được trợ cấp tiền tàu xe như sau:

  a) Trường hợp cấp cứu:

- Do y tế cơ quan, xí nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị chứng nhận, và được thanh toán theo thực chi cho lượt đi bệnh viện bằng bất cứ phương tiện vận tải nào thuận tiện nhất (kể cả võng, cáng…) dùng để chuyên chở người bệnh.

Đối với lượt về, đã nhẹ bệnh thì giải quyết tiền tàu xe như quy định cho trường hợp bình thường nói dưới đây:

- Trường hợp ốm nặng, nhưng chưa đến mức cấp cứu, mà người bệnh không thể tự mình đến bệnh viện được, nếu phải đi bằng các phương tiện giao thông vận tải thô sơ như xích lô, xe ngựa… do y tế cơ quan, xí nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị chứng nhận, thì được thanh toán tiền thuê phương tiện tính theo giá cước chính thức ở địa phương.

b) Trường hợp bình thường:

Được thanh toán theo thực chi khi đi bằng các phương tiện vận tải công cộng của Nhà nước hoặc đã được Nhà nước quản lý và quy định giá cước vận chuyển, như xe lửa, xe điện, ô tô, canô, tàu thủy, đò ngang.

Nếu không có các phương tiện công cộng của Nhà nước như đã kể trên, hoặc có nhưng không thuận tiện mà công nhân, viên chức phải tranh thủ thời gian sử dụng các phương tiện vận tải khác như xe ngựa, xích lô, thuyền (đò dọc)… hoặc phải đi bộ, đi xe đạp tư, xe máy tư, thì được thanh toán một khoản phụ cấp thay vào tiền tàu xe ấn định là 0đ03 (ba xu) một kilômét.

Để tránh phiền phức cho công việc thanh toán, đối với trường hợp đi các quãng đường ngắn (số tiền được hưởng mỗi lần quá ít), thì đến cuối tháng sẽ cộng những lần đã đi khám bệnh hay điều trị trong tháng để tính tiền tàu xe hoặc phụ cấp thay vào tiền tàu xe. Nếu trong một tháng, số tiền được thanh toán tính ra không bằng một nửa định suất công tác phí hiện hành thì bỏ, không chuyển cộng với những lần đi các tháng sau để tính.

c) Điều khoản phụ.

- Trong tất cả các trường hợp kể trên, đều không cấp cước phí xe đạp, xe máy mang theo, hoặc phụ cấp hao mòn xe tư và phụ cấp đi đường.

- Công nhân, viên chức đưa người bệnh là công nhân, viên chức đến bệnh viện, được hưởng các khoản phụ cấp đi đường như đi công tác.

- Công nhân, viên chức đưa con đi khám bệnh không thuộc phạm vi các quy định trên.

2. Phụ cấp lưu trú.

Công nhân, viên chức từ các tỉnh khác đến để khám bệnh hoặc điều trị ở các bệnh viện khu vực hay Trung ương, nếu bệnh viện thiếu chỗ nằm, phải điều trị ngoài trú (có chứng nhận của bệnh viện) mà cơ quan cùng hay khác ngành cũng không sắp xếp được nơi ăn, chốn ở nên phải ở trọ, thì được hưởng phụ cấp lưu trú và tiền trọ như quy định tại mục IV, điểm 1 của Thông tư số 04-TT/HCVX ngày 06/01/1968  về chế độ công tác phí.

Khoản chi về tiền tàu xe, phụ cấp lưu trú và tiền trọ của công nhân viên chức đi khám bệnh, điều trị, do cơ quan, xí nghiệp thanh toán và ghi vào một tiết riêng “tiền tàu xe đi khám bệnh điều trị” trong mục “Y tế - Vệ sinh” của mục lục ngân sách, chứ không trích trong quỹ bảo hiểm xã hội.

Riêng đối với trường hợp chuyển viện thì tiền tàu xe do bệnh viện thanh toán vào kinh phí của Bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế.

Để khỏi lẫn với trường hợp đi công tác, cơ quan, xí nghiệp không cấp giấy đi đường cho công nhân, viên chức khi đi khám bệnh, điều trị. Việc thanh toán tiền tàu xe đi khám bệnh, điều trị căn cứ vào giấy ra viện hoặc tờ khai của công nhân, viên chức, có xác nhận của y tế cơ quan, xí nghiệp hoặc của thủ trưởng đơn vị, và có kèm theo vé tàu xe (nếu đi tàu, xe có phát vé).

Công nhân, viên chức đang nghỉ việc vì mất sức lao động hoặc đã về hưu, khi đi khám bệnh, điều trị, cũng được trợ cấp tiền tàu xe, phụ cấp lưu trú và tiền trọ (nếu có) như công nhân, viên chức tại chức. Các khoản này do Ủy ban hành chính nơi công nhân, viên chức cư trú thanh toán vào quỹ bảo hiểm xã hội (phần thuộc Bộ Nội vụ quản lý), và ghi sổ sách theo sự hướng dẫn của Bộ Nội vụ.

II. TRƯỜNG HỢP ĐI NGHỈ PHÉP

1. Trong dịp được nghỉ phép năm, nếu công nhân, viên chức về thăm gia đình hay đến một nơi nghỉ nhất định, thì được trợ cấp tiền tàu xe (cả hai lượt đi, về), theo giá vé các phương tiện vận tải công cộng thông thường của Nhà nước, như xe lửa, xe điện, ô tô, canô, tàu thủy, đò ngang; không có phụ cấp đi đường, phụ cấp tạm trú và tiền trọ, hoặc phụ cấp cước phí xe đạp, xe máy mang theo và phụ cấp hao mòn xe tư.

Nếu không có các phương tiện nói trên nên phải đi bộ, đi xe đạp tư hay sử dụng các phương tiện vận tải khác, thì được thanh toán một khoản phụ cấp thay vào tiền tàu xe ấn định là 0đ03 (ba xu) một kilômét.

Nếu quãng đường đi nghỉ phép từ 10 kilômét trở xuống thì không có phụ cấp tiền tàu xe.

Trong một năm chỉ được thanh toán một lần tiền tàu xe đi nghỉ phép (hoặc tiền phụ cấp thay vào tiền tàu xe), dù có được phép nghỉ dồn các năm trước.

2. Đi nghỉ phép về việc riêng, không có trợ cấp tiền tàu xe. Trường hợp kết hợp với nghỉ phép năm để giải quyết việc riêng và trong năm đó chưa được thanh toán tiền tàu xe đi nghỉ phép năm lần nào, thì hưởng trợ cấp như quy định ở điểm 1.

3. Khoản chi về tiền tàu xe cho công nhân, viên chức đi nghỉ phép do cơ quan, xí nghiệp thanh toán, căn cứ vào giấy nghỉ phép năm có chứng nhận của địa phương nơi đến, kèm theo vé tàu xe (nếu đi tàu, xe có phát vé) và ghi  vào mục “Phúc lợi tập thể” của mục lục ngân sách.

III. TRƯỜNG HỢP THÔI VIỆC VỀ QUÊ QUÁN

Công nhân, viên chức thôi việc (không phân biệt trường hợp được trợ cấp hay không được trợ cấp thôi việc), hoặc nghỉ việc vì mất sức lao động hoặc về hưu, nếu đi về quê quán hay đi đến nơi định cư, hoặc nhà an dưỡng của Nhà nước đều được trợ cấp tiền tàu xe và tiền ăn đường như sau:

1. Trường hợp nơi ở mới cách xa chỗ ở cũ trên 10km.

a) Bản thân công nhân, viên chức được hưởng:

- Tiền tàu xe theo thực chi, nếu là đi xe lửa, xe điện, ô tô, ca nô, tàu thủy, đò ngang, hoặc một khoản phụ cấp thay vào tiền tàu xe (nếu chặng đường không có các phương tiện nói trên) ấn định là 0đ03 (ba xu) một kilômét và kể từ kilômét đầu.

- Tiền cước hành lý không qúa 70 kilôgam (không kể số kilôgam được miễn cước phí theo quy định của cơ quan vận tải), tiền chuyên chở hành lý bằng phương tiện thô sơ như xích lô, xe bò, ba gác… tính theo giá cước chính thức ở địa phương, từ nơi ở cũ đến nhà ga, bến tàu, bến xe và từ nhà ga, bến tàu, bến xe  về nơi ở mới.

- Tiền cước xe đạp hoặc xe máy mang theo, nếu có.

- Tiền ăn đường mỗi ngày 1đ20 (nửa ngày 0đ60).

b) Những người trong gia đình gồm bố, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con (con đẻ chung, con nuôi, con riêng) ngày thường vẫn sống chung với công nhân, viên chức, nay cùng đi (hoặc đi sau vào dịp khác), được hưởng:

- Tiền xe hoặc phụ cấp thay vào tiền tàu xe như trên.

- Tiền cước hành lý không qúa 30 kilôgam mỗi người (không kể số kilôgam được miễn cước phí theo quy định của cơ quan vận tải).

- Tiền ăn đường mỗi người 0đ60 một ngày (nửa ngày 0đ30).

2. Trường hợp nơi ở mới cách xa chỗ ở cũ từ 10km trở xuống.

Bản thân công nhân, viên chức cũng như người trong gia đình cùng đi, chỉ được cấp tiền tổn phí chuyên chở hành lý với trọng lượng quy định trên đây, tính theo giá  cước chính thức của các phương tiện thô sơ nói ở điểm 1-a, nếu thực tế có phải thuê chuyên chở.

Cơ quan, xí nghiệp có công nhân, viên chức thôi việc (kể cả nghỉ việc vì mất sức lao động và về hưu), căn cứ vào giấy tờ chứng nhận, cắt hộ khẩu và lương thực ở nơi ở cũ, cần tính toán thật sát để cấp phát đầy đủ và đúng chế độ các khoản trợ cấp  nói trên cho công nhân, viên chức và gia đình đi theo, nếu có, trước khi công nhân, viên chức rời khỏi đơn vị.

Cần chú ý: chỉ cấp tiền cước hành lý cùng với tiền tàu xe nếu chặng đường có các phương tiện vận tải như quy định tại điểm 1-a trên đây; trường hợp cấp khoản phụ cấp thay vào tiền tàu xe thì thôi không tính riêng tiền cước hành lý.

Nếu vì lý do đó mà sau khi thôi việc chưa về quê quán hay vào nhà an dưỡng ngay, sau một thời gian mới chuyển đi, thì cũng vẫn được cơ quan, xí nghiệp cũ thanh toán tiền tàu xe và tiền ăn đường theo như quy định ở trên.

Các khoản trợ cấp tiền tàu xe và tiền ăn đường cho công nhân, viên chức thôi việc hoặc về hưu nói trong mục này được quyết toán vào mục “Chi về công tác xã hội” của mục lục ngân sách.

Thông tư này thi hành kể từ ngày 01/01/1970 và áp dụng chung cho tất cả các cơ quan hành chính sự nghiệp, các xí nghiệp kinh doanh, sản xuất từ cấp huyện trở lên, không phân biệt ở miền núi hay ở miền xuôi.

Ở khu vực kinh doanh, sản xuất, các khoản chi quy định trong thông tư này đều hạch toán vào giá thành hoặc  phí lưu thông (mục quản lý phí).

Đối với những trường hợp đi khám bệnh, điều trị và đi nghỉ phép trước ngày thi hành thông tư này (01/01/1970), nếu trở về cơ quan, xí nghiệp sau ngày đó, thì thanh toán theo quy định của thông tư này.

Những quy định trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ.

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng lĩnh vực: Tài chính hành chính sự nghiệp

08/2026/NQ-HĐNDHĐND tỉnh Điện Biên

Quy định mức chỉ đón tiếp, thăm hỏi, chúc mừng, phúng viếng đối với một số đối tượng do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Còn hiệu lựcBan hành: 13/3/2026Nghị quyết
07/2026/NQ-HĐNDHĐND tỉnh Điện Biên

Quy định phân định nhiệm vụ chi bảo vệ môi trường, nhiệm vụ chi hoạt động kinh tế về tài nguyên môi trường trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Còn hiệu lựcBan hành: 13/3/2026Nghị quyết
03/2026/NQ-HĐNDHĐND tỉnh Điện Biên

Quy định nội dung chi, mức chi bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Còn hiệu lựcBan hành: 27/2/2026Nghị quyết
02/2026/NQ-HĐNDHội đồng Nhân dân tỉnh Cà Mau

Quy định mức chi tiếp khách nước ngoài vào làm việc, chi tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế và chi tiếp khách trong nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Cà Mau

Còn hiệu lựcBan hành: 25/2/2026Nghị quyết
'37/2025/NQ-HĐNDHĐND Thành phố Cần Thơ

Quy định nội dung chi, mức chi thực hiện các cuộc điều tra thống kê do ngân sách địa phương bảo đảm trên địa bàn thành phố Cần Thơ

Còn hiệu lựcBan hành: 31/12/2025Nghị quyết
107/2025/QĐ-UBNDUBND tỉnh Điện Biên

Quy định phân bổ số lượng xe ô tô phục vụ công tác chung, số lượng xe ô tô bán tải, xe ô tô từ 12-16 chỗ ngồi phục vụ công tác chung, phương thức quản lý xe ô tô phục vụ công tác chung; phân cấp thẩm quyền quyết định khoán kinh phí sử dụng xe ô tô trang bị cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Điện Biên

Còn hiệu lựcBan hành: 31/12/2025Quyết định

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính

31/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính

Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt

Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
01/VBHN-BTCBộ Tài chính

Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
02/VBHN-BTСBộ Tài chính

Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.