Thông tư

Về việc trả tiền công thải nam bộ và công phiếu kháng chiến nam bộ của bộ đội, cán bộ và đồng bào đã đem ra bắc

Số hiệu: 122-TC/HCP/P3

Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
23/12/1958
Ngày hiệu lực
23/12/1958
Người ký
Nguyễn Thanh Sơn
Chức danh người ký
Thứ trưởng
Lĩnh vực
Quản lý ngân sách; Tài chính khác
Còn hiệu lựcThông tư

THÔNG TƯ

Về việc trả tiền công thải Nam Bộ và công phiếu kháng chiến Nam Bộ của bộ đội, cán bộ và đồng bào đã đem ra Bắc

________________________

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

Kính gửi:

các Ủy ban Hành chính khu, tỉnh, thành phố, các Khu, Sở, Ty Tài chính.

Tại thông tư số 5291-TN ngày 19-11-1958, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chủ trương cho quy vốn mua Công thải Nam bộ và Công phiếu kháng chiến phát hành ở Nam bộ ra vàng theo giá vàng ở Nam Bộ lúc mua và lấy giá vàng chính thức hiện nay ở miền Bắc để thanh toán.

Chấp hành chỉ thị trên, thông tư này nhằm mục đích giải thích thêm về lý do phải thanh toán theo giá vàng, đồng thời quy định cụ thể cách thức thanh toán.

I. – LÝ DO THANH TOÁN THEO GIÁ VÀNG

Việc quy giá vốn và giá thanh toán các Công thải Nam bộ và Công phiếu kháng chiến phát hành ở Nam bộ, vì là một vấn đề lớn rất phức tạp, nên phải mất một thời gian điều tra và nghiên cứu rất lâu trong nhiều cuộc hội nghị, giữa:

a) Các cơ quan có liên quan: Ban Kinh tế Chính phủ, Ban Thống nhất trung ương, Bộ Nội vụ, Ngân hàng trung ương và Bộ Tài chính.

b) Và giữa các cán bộ trước đây lãnh đạo Nam bộ, các cán bộ phụ trách kinh tế tài chính và một số các cán bộ lãnh đạo các tỉnh Nam bộ, hiện nay tập kết ra Bắc.

Việc điều tra và nghiên cứu đã trải qua các giai đoạn sau đây:

Theo nghị định số 383-NĐ ngày 11-09-1952 thì Công phiếu kháng chiến phải quy ra thóc theo giá lúc mua ở nơi mua và trả bằng tiền theo giá thóc tại nơi mua lúc thanh toán.

Vì tình hình chiến sự trước kia và tình hình chính trị hiện nay (đất nước tạm thời bị chia cắt) việc sưu tầm giá thóc ở các tỉnh Nam bộ gặp rất nhiều khó khăn: tài liệu không đầy đủ, chính xác, nên trước đây, về giá thanh toán, có ba ý kiến:

1) Lấy giá thóc miền Tây Nam bộ lúc tập kết.

2) Lấy giá thóc hiện nay ở miền Bắc.

3) Lấy giá thóc hiện nay ở Nam bộ.

Nghiên cứu kỹ ba ý kiến trên, thì thấy:

- Nếu lấy giá thóc Miền Tây Nam bộ lúc tập kết thì không hợp lý, vì giá đó là giá đã cách đây 4 năm.

- Còn lấy giá thóc hiện nay ở Nam bộ thì mặc dầu đã hết sức tìm kiếm vẫn không có được đầy đủ các tài liệu.

Dù có tìm được thì giá thóc ấy cũng không thể dùng làm cơ sở để tính toán được, vì tài liệu này không chính xác, do chính sách giá cả của chính quyền miền Nam căn bản là sai.

- Còn nếu lấy giá thóc ở miền Bắc hiện nay thì thấy:

Một Công phiếu kháng chiến loại 1.000đ mua ở Nam bộ có thể được trả từ 106.425 đồng đến 642.825 đồng, trong khi đó thì một phiếu cùng một loại mua cùng một thời gian ở Bắc bộ chỉ có thể được trả từ 2.475 đồng đến 70.200 đồng, tức là một phiếu Nam bộ được trả nhiều hơn một phiếu Bắc bộ từ 9 lần đến 259 lần, ảnh hưởng không tốt đến đoàn kết Bắc Nam.

Sự chênh lệch quá đáng ấy đã làm nổi bật những điều bất hợp lý như sau:

- Phiếu mua quy ra vốn theo giá thóc ở nơi hạ, lại trả theo giá thóc ở nơi cao trái với nghị định số 383-NĐ ngày 11-09-1952: phiếu mua ở địa phương nào thì thanh toán theo giá thóc lúc thanh toán ở địa phương ấy.

- Hơn nữa giá thóc ở Nam bộ cũng lại chênh lệch rất xa giữa miền Đông và miền Tây, nếu quy vốn và thanh toán theo giá thóc sẽ còn có thể phát sinh suy tị ngay trong hàng ngũ các cán bộ và đồng bào Nam bộ tập kết.

Ngoài ba ý kiến thanh toán theo giá thóc, lại có ý kiến đề nghị quy vốn và thanh toán theo giá sinh hoạt. Nghiên cứu lại, thấy cách này cũng không hợp lý vì nếu quy vốn và thanh toán theo giá sinh hoạt thì phải:

a) Căn cứ vào lương tháng: trong thời kỳ kháng chiến, các cán bộ Nam bộ nói chung đều ở nhà nhân dân, tăng gia tự túc hoặc được gia đình tiếp tế, nên không lĩnh lương, khi cần thiết lắm mới xin cấp sinh hoạt phí, nhiều ít tùy từng vùng, vào khoảng từ 13đ. ĐD đến 45đ. ĐD một tháng.

Nếu lấy sinh hoạt phí cao nhất như năm 1949 ở Rạch giá là 45đ. ĐD làm căn cứ, thì mua 1 Công phiếu kháng chiến loại 1.000đ. phải mất:

1.000đ

= 22 tháng sinh hoạt phí

45đ

Lương trung bình của một cán bộ ở miền Bắc năm 1957 (lúc nghiên cứu vấn đề này) là 3 vạn đồng 1 tháng. Nếu lấy lương tháng làm căn cứ thì phiếu ấy phải trả thành tiền là 3 vạn x 22 = 66 vạn. Như vậy, số tiền phải trả lại còn không hợp lý hơn cách tích nói ở trên (nhiều hơn 259 lần).

Cách này chẳng những bất hợp lý ở chỗ số tiền phải trả quá nhiều mà còn ở chỗ: về căn bản tính chất lương hiện nay ở miền Bắc và tính chất sinh hoạt phí trước đây ở Nam bộ không giống nhau, do đó không thể dùng làm cơ sở chung để tính toán được.

b) Căn cứ vào vật giá: Khó khăn ở chỗ:

- Không biết lấy vật phẩm gì làm tiêu chuẩn? (vải ? đường ?)

- Không có đủ tài liệu chính xác về giá cả của những vật phẩm ấy trong những năm 1948, 1949, 1950 và hiện nay ở Nam bộ (còn phức tạp hơn lấy giá thóc rất nhiều).

Vì những lẽ ấy, nêu sau khi xem xét các ý kiến kể trên, Thủ tướng Chính phủ thấy vấn đề này rất phức tạp và tài liệu lại thiếu sót không thể đòi hỏi giải quyết một cách công bằng tuyệt đối được và chỉ có thanh toán theo giá vàng là một biện pháp tương đối hợp lý hơn cả.

Do đó đã quyết định quy vốn và thanh toán theo giá vàng. Cách tính này tương đối hợp lý nhất vì:

a) Giá vàng ở Nam bộ không chênh lệch nhau lắm giữa miền Đông và miền Tây như giá thóc.

b) Giá vàng giữa Nam bộ và Bắc bộ, hiện nay và trước đây cũng thế, không chênh lệch nhau lắm như giá thóc và do đó số tiền trả cũng không chênh lệch quá như trả theo giá thóc (xem bảng tính sẵn đính kèm).

II. - THỂ THỨC THANH TOÁN

1) Phiếu chính thức:

Cũng như đối với Công phiếu kháng chiến phát hành ở miền Bắc và Liên khu V, các Khu, Sở, Ty Tài chính có thể trả cho tất cả những trường hợp có phiếu chính thức.

2) Biên lại:

Đối với các trường hợp không có phiếu chính thức mà chỉ có biên lai tạm thời, nói chung cũng thanh toán như phiếu chính thức (chỗ này có khác với việc chưa thanh toán biên lai của miền Bắc), vì ở Nam bộ, khi phát phiếu chính thức, biên lai tạm thời đều thu về và hủy bỏ. Trường hợp còn biên lai tạm tức là chưa nhận được phiếu chính thức.

Trường hợp nào nghi ngờ, thì lấy chứng nhận của cấp phụ trách chính quyền nơi bán phiếu (có thể lấy một trong các chứng nhận sau đây: chứng nhận của các Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh, ủy viên Ủy ban Hành chính phụ trách kinh tế tài chính hay Trưởng ban Kinh tế Tài chính hiện nay đã tập kết ra Bắc). Chữ ký và chức trách cũ của người chứng nhận phải có xác nhận của cơ quan hiện đang làm việc.

3) Năm ghi trên Công phiếu kháng chiến:

Nói chung, các cơ quan Tài chính sẽ căn cứ vào năm ghi trên phần chính phiếu để tính trả.

Trong những năm: 1948-1949 ở Nam bộ, Chính phủ phát hành Công phiếu kháng chiến, nhưng chưa có phiếu chính thức, nên ở một vài địa phương chỉ phát biên lai tạm thời, đến năm 1951 mới có phiếu chính thức. Do đó, phiếu mua năm 1948-1949 lại ghi năm phát phiếu là năm 1951. Tuy nhiên, năm ghi trên các phiếu lãi lại ghi đúng với năm mua phiếu.

Vậy đối với những phiếu loại này, thì có thể thanh toán theo năm mua phiếu, không theo năm phát phiếu.

4) Bảng tính sẵn:

Các Khu, Sở, Ty Tài chính sẽ căn cứ vào bảng tính sẵn đính kèm để tính số tiền phải trả.

Trong bảng tính sẵn, cần chú ý mấy điểm sau đây:

a) Giá quy vốn: Giá quy vốn các Công thải Nam bộ và Công phiếu kháng chiến phát hành ở Nam bộ là giá vàng trung bình hàng năm lúc mua phiếu ở Nam bộ.

b) Giá thanh toán: Giá thanh toán (29 vạn) là giá vàng Công ty Mỹ nghệ Vàng bạc bán ra tháng 12-1958 ở Bắc bộ (giá này không thay đổi từ tháng 08-58 đến tháng 12-58). Lấy giá cố định này thanh toán cho hết số phiếu ở Nam bộ đã mang ra Bắc khi tập kết, nghĩa là không thay đổi khi giá vàng tăng hoặc giảm vì nếu thay đổi rất phức tạp.

c) Công thải Nam bộ (C.T.N.B): Công thải Nam bộ có ba loại: 100đ, 500đ, và 1.000đ, nhưng thực tế, chỉ phát hành có một loại 100đ, bán bằng tiền Đông dương trong các năm 1947 và 1948 ở Nam bộ.

Công thải Nam bộ không có phiếu lãi, không ghi tên, không ghi năm mua và nơi mua, vì vậy khi thanh toán, các Khu, Sở Ty Tài chính sẽ căncứ vào lời khai của chủ phiếu để tính trả (lời khai phải ghi rõ năm mua phiếu và phải có chứng nhận của cấp phụ trách chính quyền nơi bán phiếu có thể lấy 1 trong các chứng nhận kể ở điểm 2).

d) Công phiếu kháng chiến (C.P.K.C) – Vì Công phiếu kháng chiến quy theo giá vàng trung bình ở toàn Nam bộ, nên số tiền trả thống nhất cho tất cả các tỉnh Nam bộ, không phân biệt phiếu mua ở tỉnh này hay tỉnh khác.

Khi trả, chỉ cần phân biệt phiếu thuộc loại nào, mua năm nào và mua bằng tiền Đông Dương hay bằng tiền Việt Nam.

Trong bảng tính sẵn, riêng về năm 1948 và năm 1949, thì không cần phân biệt phiếu mua bằng tiền Đông Dương hay tiền Việt Nam, vì trong 2 năm đó, giá trị hai thứ tiền ngang nhau, số tiền trả bằng nhau cho 2 loại phiếu, nhưng từ năm 1950 trở đi, tiền Việt Nam, so với tiền Đông Dương, đã mất giá:

Năm 1950, mất 30%, tức là 100đ. Việt Nam chỉ bằng 70đ, Đông Dương.

Năm 1951, mất 50%, tức là 100đ. Việt Nam chỉ bằng 50đ. Đông Dương.

Năm 1952, mất 75%, tức là 100đ. Việt Nam chỉ bằng 25đ. Đông Dương.

Vì vậy, khi trả các phiếu phát hành trong các năm 1950, 1951 và 1952 cần chú ý phân biệt phiếu mua bằng tiền Đông Dương hay tiền Việt Nam.

Phiếu mua bằng tiền Đông Dương thì trên phiếu không ghi gì.

Nếu phiếu mua bằng tiền Việt Nam, thì trên phiếu sau số tiền 200đ, 1.000đ v.v... có ghi thêm mấy chữ viết hay "Bạc Việt Nam". Tuy nhiên, cũng có phiếu không ghi. Vậy đối với các phiếu không ghi, nếu chủ phiếu cho biết là mua bằng tiền Việt Nam thì không có gì phải nghiên cứu thêm, vì đa số các phiếu đều mua bằng tiền Việt Nam, nhất là các phiếu loại lớn. Nhưng nếu chủ phiếu nói là mua bằng tiền Đông Dương thì đề nghị nên có sự chứng nhận của cấp chính quyền cũ như đã nêu ở điểm 2.

5) Điều chỉnh các phiếu trước đây đã được tạm ứng:

Có một số phiếu trước đây đã được tạm ứng nay sẽ điều chỉnh lại, nếu số tiền tạm ứng chưa đủ, thì trả thêm cho đủ. Nếu tiền tạm ứng thừa, thì không đặt vấn đề truy nạp nữa.

6) Theo thường lệ các Khu, Sở, Ty Tài chính sẽ trích Tổng dự toán tỉnh tạm ứng trả cho Bộ, rồi hàng tháng (hoặc hàng tuần tùy trường hợp tạm ứng nhiều hay ít) báo cáo Bộ, dựa theo mẫu báo cáo về Công phiếu kháng chiến miền bắc, để Bộ cấp kinh phí điều chỉnh.

Các phiếu sau khi đã thanh toán, đều phải đóng dấu "Đã thanh toán ngày ... tháng ... năm ..." bằng chữ to rất rõ ràng. Dưới dòng chữ ấy, các Khu, Sở, Ty Tài chính sẽ đóng dấu của cơ quan, đề ngày và ký tên; những phiếu đã thanh toán, sẽ lưu ở địa phương, nhưng cần xếp riêng, không để chung với phiếu phát hành ở miền Bắc để tiện việc kiểm soát. Các phiếu đã thanh toán cũng phải bảo quản cẩn thận.

Theo tinh thần chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ mong các Ủy ban đặt kế hoạch thực hiện cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương. Đặc biệt chú ý lãnh đạo tư tưởng, giải thích cho anh chị em bộ đội, cán bộ và đồng bào thông cảm vấn đề này: một mặt, nêu lên sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, mặt khác cũng phải nêu khó khăn, phức tạp của vấn đề, đồng thời nhớ nhấn mạnh tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng và đoàn kết của mọi người để thanh toán tốt, gọn, không nên đặt vấn đề trở đi trở lại kéo dài, vừa không lợi cho anh chị em vừa không lợi cho Chính phủ.

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng lĩnh vực: Quản lý ngân sách; Tài chính khác

04/2018/TT-BTCBộ Tài chính

Hướng dẫn quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng

Còn hiệu lựcBan hành: 17/1/2018Thông tư
01/2018/TT-BTCBộ Tài chính

Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm trật tự an toàn giao thông

Còn hiệu lựcBan hành: 2/1/2018Thông tư
08/2009/TT-BTCBộ Tài chính

Hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có mức lương thấp, đời sống khó khăn và điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc năm 2009

Còn hiệu lựcBan hành: 16/1/2009Thông tư
04/2007/TTLT-BNV-BTC-BTNMT-BLĐTBXHBộ Lao động - Thương Binh và Xã hội

Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ ăn định lượng và chế độ thiếu nước ngọt đối với công nhân, viên chức làm nhiệm vụ trên biển trong các đơn vị sự nghiệp thuộc các ngành địa chính, địa chất và khí tượng thuỷ văn

Còn hiệu lựcBan hành: 22/10/2007Thông tư liên tịch
15/2007/TTLT-BCA-BTC-BKH&ĐTBộ Kế hoạch và Ðầu tư

Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2006/NĐ-CP ngày 10 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân

Hết hiệu lực toàn bộBan hành: 24/9/2007Thông tư liên tịch
13/2007/TTLT-BLĐTBXH-BNV-BTCBộ Tài chính

Hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma tuý, người bns dâm và người sau cai nghiện ma tuý

Còn hiệu lựcBan hành: 20/8/2007Thông tư liên tịch

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính

31/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính

Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt

Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
01/VBHN-BTCBộ Tài chính

Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
02/VBHN-BTСBộ Tài chính

Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.