Thông tư

Hướng dẫn việc cấp phát kinh phí cho nhà ăn tập thể

Số hiệu: 07-TC/TVHC

Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
3/4/1962
Ngày hiệu lực
3/4/1962
Người ký
Trịnh Văn Bính
Chức danh người ký
Thứ trưởng
Còn hiệu lựcThông tư

THÔNG TƯ

Hướng dẫn việc cấp phát kinh phí cho nhà ăn tập thể

________________________

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH 

Kính gửi:

- Ban Thường vụ Quốc hội.
- Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ
- Các cơ quan đoàn thể trung ương
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố
- Các sở, Ty Tài chính

 

Thông tư liên Bộ Nội vụ, Lao động, Tài chính, Nội thương số 16-LB/TT ngày 12/10/1961 về chế độ nhà ăn tập thể đã quy định mức chi phí về nhà ăn.

Sau khi thống nhất ý kiến với các Bộ Lao động, Nội vụ và Nội thương, Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc cấp phát kinh phí cho các nhà ăn tập thể và việc thanh toán thu, chi của nhà ăn tập thể như sau:

1. Về nguyên tắc quản lý nhà ăn tập thể:

a) Đối với những nhà ăn đã chuyển sang ngành Nội thương quản lý.

Những nhà ăn tập thể đã chuyển sang ngành Nội thương quản lý đều là những xí nghiệp ăn uống tập thể, hạch toán độc lập và kinh doanh không lãi nên:

- Được cấp vốn cố định và vốn lưu động để làm nhiệm vụ kế hoạch của mình theo chế độ cấp vốn Nhà nước đối với các xí nghiệp ăn uống.

- Phải hạch toán kế toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước áp dụng chung cho các xí nghiệp ăn uống.

- Phải báo cáo kế toán như chế độ đã quy định.

- Phải có kế hoạch thu chi tài vụ, kế hoạch lao động tiền lương, kế hoạch giá thành v.v…

b) Đối với những nhà ăn chưa chuyển sang ngành Nội thương quản lý.

Những nhà ăn chưa chuyển sang ngành Nội thương quản lý chưa có đủ điều kiện để hạch toán kinh tế thì các cơ quan xí nghiệp có nhà ăn phải chịu trách nhiệm quản lý nhà ăn bằng cách lấy số thu (thu 5% vào mức ăn của cán bộ, công nhân viên chức, thu tiền trợ cấp của Nhà nước 1đ80 một người 1 tháng) để đảm bảo mọi khoản chi phí về quản lý nhà ăn (chi về lương và phụ cấp lương, chi về phụ cấp xã hội cho nhân viên phục vụ nhà ăn: quản lý, kế toán, cấp dưỡng, v.v… chi về mua sắm dụng cụ, sửa chữa dụng cụ, chi về điện nước vệ sinh, sửa chữa nhỏ về nhà cửa v.v…).

- Chi phí về kiến thiết cơ bản (gồm cả chi về xây dựng và trang bị lúc đầu) chi phí về sửa chữa lớn nhà ăn thì không tính vào số tiền 2đ70 mà tính vào kinh phí kiến thiết cơ bản và kinh phí sửa chữa lớn của cơ quan, xí nghiệp có nhà ăn.

- Hàng tháng các cơ quan, xí nghiệp phải bảo cáo tổng số tiền do cơ quan xí nghiệp trợ cấp nhà ăn, tổng số thu của cán bộ công nhân viên chức và tổng số chi, đồng thời phải tính được số tiền chi phí bình quân mỗi tháng theo đầu người ăn ở nhà ăn tập thể.

- Số tiền trợ cấp hàng tháng cho nhà ăn, nếu chi chưa hết, thì cơ quan, xí nghiệp được chuyển chi sang tháng sau, vì có thể có tháng chi nhiều tháng chi ít, có tháng phải mua sắm, có tháng không, nhưng bình quân cả năm chi cho nhà ăn tập thể không được vượt mức trợ cấp 1đ80 một người một tháng. Quyết toán hàng tháng của cơ quan xí nghiệp gửi cơ quan Tài chính chỉ ghi số thực chi của nhà ăn tập thể chứ không quyết toán theo mức trợ cấp 1đ80.

2. Mức đóng góp của cán bộ và trợ cấp của Nhà nước:

- Cán bộ, công nhân, viên chức thuộc cơ quan, xí nghiệp Nhà nước ăn ở các nhà ăn tập thể phải chịu phần phí tổn quản lý nhà ăn bằng 5% mức ăn của mình (trừ vào tiền ăn hàng tháng).

- Nhà nước trợ cấp thêm cho nhà ăn tập thể để bù đắp mọi khoản phí tổn, mỗi tháng 1đ80 một người.

Số tiền phụ cấp do cơ quan xí nghiệp có cán bộ, công nhân viên chức ăn ở nhà ăn tập thể cấp hàng tháng cho nhà ăn theo đầu người. Trong cuộc họp do Ủy ban hành chính Hà Nội triệu tập ngày 20/03/1962 có đại biểu các cơ quan Lao động, Nội vụ, Nội thương, Tài chính, Công ty ăn uống Hà Nội được giao trách nhiệm quản lý nhà ăn tập thể ở Hà Nội đã đề nghị hàng tháng các cơ quan, xí nghiệp ứng trước trợ cấp theo mức 95% tổng số người đã đăng ký vì trong số người đăng ký có thể có một số người đi công tác xa không ăn.

Ở các khu, tỉnh khác, cơ quan tài chính và thương nghiệp cần nắm tình hình thực tế của các nhà ăn để biết số người đã thường xuyên ăn ở nhà ăn tập thể so với số người đăng ký để trình Ủy ban hành chính quyết định tỷ lệ ứng trước tiền trợ cấp hàng tháng cho nhà ăn.

Quy định việc ứng trước như trên để cho việc tính toán đỡ phức tạp. Sau một thời gian theo dõi, xác định được tỷ lệ số người ăn thường xuyên ở nhà ăn tập thể so với số người ăn thường xuyên ở nhà ăn tập thể so với số người đăng ký, cơ quan tài chính sẽ cùng với các ngành có liên quan quy định lại cách thức cấp phát trợ cấp cho sát thực tế hơn.

- Trường hợp cơ quan, xí nghiệp tổ chức hội nghị mà nhà ăn tập thể phải phục vụ thì cơ quan xí nghiệp phải cấp cho nhà ăn tập thể 0đ07 một đại biểu, một ngày.

Để các nhà ăn tập thể có kinh phí hoạt động (trả lương cán bộ nhân viên phục vụ nhà ăn, mua thực phẩm, sắm đồ đạc cần thiết…) các cơ quan, xí nghiệp phải chuyển số tiền trợ cấp cho nhà ăn vào ngày 01, hoặc ngày 02 đầu tháng. Nếu để quá ngày, cơ quan thương nghiệp có thể đề nghị Ngân hàng trích hạn mức của các cơ quan, hoặc trích tài khoản của cơ quan, xí nghiệp để chuyển cho tài khoản Nhà ăn để có tiền bảo đảm cung cấp ăn uống hàng ngày cho công nhân viên chức.

3. Mức đóng góp đối với gia đình cán bộ ăn ở nhà ăn tập thể:

- Gia đình cán bộ công nhân viên chức (bố, mẹ, vợ chồng, con) từ trước đến nay vẫn ăn ở nhà ăn tập thể, nhưng bản thân những người đó không có thu nhập hoặc thu nhập dưới 20đ (do công đoàn chứng nhận) thì cơ quan, xí nghiệp cũng trợ cấp theo mức 1đ80 một người, nếu có thu nhập từ 20đ trở lên thì cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm thu của mỗi người 1đ00 còn thiếu 0đ80 thì cơ quan, xí nghiệp trợ cấp thêm cho đủ mức 1đ80 một người để chuyển cho nhà ăn tập thể.

- Người giúp việc riêng của cán bộ, công nhân viên chức, những người bà con họ hàng khác, nói chung là không được ăn ở nhà ăn tập thể. Nhưng nếu từ trước đến nay vẫn ăn ở nhà ăn tập thể thì ngoài số tiền thu trích 5% mức ăn còn phải nộp trả nhà ăn 1đ80 một người một tháng, Nhà nước không trợ cấp thêm.

4. Kinh phí trợ cấp nhà ăn:

­- Đối với các cơ quan hành chính sự nghiệp, số tiền trợ cấp hàng tháng cho nhà ăn tập thể do Ngân sách Nhà nước cấp phát trong dự toán kinh phí của các cơ quan đó và ghi và mức trợ cấp xã hội, tiết “trợ cấp nhà ăn”.

- Đối với các xí nghiệp nói chung thì trợ cấp nhà ăn tập thể do các xí nghiệp trả và tính vào lỗ lãi ngoài kinh doanh. Theo Chỉ thị số 127-TTg ngày 01/04/1961 của Thủ tướng Chính phủ, các xí nghiệp có thể trích quỹ phúc lợi của xí nghiệp để chi thêm về việc phát triển nhà ăn.

- Đối với các đơn vị kiến thiết cơ bản thì tính vào mức trợ cấp xã hội (chi phí gián tiếp) trong dự toán kiến thiết.

- Đối với các trường học thì do kinh phí sự nghiệp văn xã của nhà trường đài thọ.

5. Việc hướng dẫn tổ chức, sổ sách kế toán, hạch toán kế toán, thu chi tài vụ:

Bộ Nội thương có nhiệm vụ hướng dẫn cụ thể về mặt tổ chức quản lý tài vụ cho các nhà ăn tập thể đã chuyển hoặc chưa chuyển sang ngành Nội thương quản lý như đã quy định trong Thông tư liên bộ số 16-LB/TT ngày 12 tháng 10 năm 1961.

6. Kế hoạch tiến hành:

Việc chuyển nhà ăn tập thể sang chế độ phúc lợi tập thể đã bắt đầu tiến hành từ ngày Phủ Thủ tướng ban hành Chỉ thị số 127-TTg, chậm nhất là đến 01 tháng 01 năm 1962 trở đi, tất cả các nhà ăn tập thể đều phải thực hiện chế độ nói trên (Thông tư liên bộ số 16-LB/TT ngày 12/10/1961), các cơ quan tài chính chỉ cấp phát kinh phí trợ cấp cho các nhà ăn tập thể theo mức 1đ80 1 người 1 tháng. Ngành Nội thương và các cơ quan, xí nghiệp chủ quản ở các cấp cần đặt kế hoạch cụ thể, bàn giao tất cả các nhà ăn tập thể trong năm 1962 trừ những nhà ăn tập thể ở xa quá và lẻ tẻ quá thì cơ quan, xí nghiệp sẽ báo cáo và đề nghị Ủy ban cho tổ chức nhà ăn riêng của cơ quan, xí nghiệp, nhưng cũng phải theo chế độ phúc lợi tập thể như các nhà ăn khác.

Khi bàn giao nhà ăn sang ngành Nội thương quản lý, các cơ quan, xí nghiệp cần bàn giao toàn bộ sổ sách, tài sản, kho quỹ, dự toán của nhà ăn, không bớt lại tý gì.

Sau khi bàn giao rồi, các nhà ăn phải đảm bảo phục vụ số người hiện đang ăn và tùy theo khả năng có thể nhận thêm người ăn. Nhưng trong buổi đầu, các nhà ăn cần có thời gian để chấn chỉnh và củng cố tổ chức, cải tiến công tác quản lý và kỹ thuật nấu ăn nên việc nhận thêm người chỉ có hạn. Các cơ quan, xí nghiệp muốn giới thiệu thêm người ăn phải thương lượng trước với nhà ăn. Sau này nếu có khả năng phục vụ sẽ nhận thêm người ăn theo thứ tự ưu tiên cho cán bộ, công nhân viên chức rồi đến những người trong gia đình mà cán bộ, công nhân, viên chức phải trực tiếp nuôi dưỡng.

Ngoài những giờ ăn cơm sáng và cơm chiều của các cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước, nhà ăn tập thể có thể tùy theo khả năng thực tế, phục vụ thêm các xã viên hợp tác xã theo chế độ quán ăn công cộng có hạch toán kinh tế như cửa hàng ăn uống của Mậu dịch quốc doanh.

Trong khi tiến hành, nếu gặp khó khăn trở ngại gì, đề nghị các cơ quan, các ngành, các cấp báo cáo cho Bộ Tài chính biết để nghiên cứu góp ý kiến giải quyết.

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính

31/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính

Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt

Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
02/VBHN-BTСBộ Tài chính

Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
01/VBHN-BTCBộ Tài chính

Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.