Thông tư

Hướng dẫn việc trích quỹ phúc lợi của các đơn vị xí nghiệp TW nộp cho ngân sách địa phương

Số hiệu: 06 TC/CNA

Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
25/2/1984
Ngày hiệu lực
1/1/1984
Người ký
Chu Tam Thức
Chức danh người ký
Thứ trưởng
Còn hiệu lựcThông tư

THÔNG TƯ

Hướng dẫn việc trích quỹ phúc lợi của các đơn vị xí nghiệp TW nộp cho ngân sách địa phương

_________________________

 Thi hành nghị quyết số 138 - HĐBT ngày 19/11/1983 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ phân cấp ngân sách cho địa phương, Bộ Tài chính hướng dẫn việc trích quỹ phúc lợi hàng năm của các đơn vị xí nghiệp Trung ương cho ngân sách địa phương như sau:

I - ĐỐI TƯỢNG TRÍCH QUỸ PHÚC LỢI CHO NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1 - Các đơn vị sản xuất kinh doanh, xây lắp bao thầu, sự nghiệp thuộc tất cả các nghành trung ương quản lý (dưới đây gọi tắt là các đơn vị xí nghiệp trung ương) hạch toán kinh tế độc lập, là đối tượng được giao chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước, đối tượng để xét hoàn thành kế hoạch Nhà nước và trích lập các quỹ xí nghiệp thì đồng thời cũng là đối tượng trích quỹ phúc lợi cho ngân sách địa phương.

Các đơn vị xí nghiệp trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ thuộc tỉnh, thành phố và đặc khu nào trực thuộc TW thì trích quỹ phúc lợi của đơn vị cho ngân sách tỉnh, thành phố và đặc khu đó.

Các đơn vị xí nghiệp trung ương chỉ trích quỹ phúc lợi cho ngân sách huyện, quận sở tại theo quyết định phân cấp của UBND tỉnh, thành phố và đặc khu. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu căn cứ vào mức trích nộp quỹ phúc lợi của các đơn vị xí nghiệp trung ương đóng trên địa bàn huyện, quận, xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi việc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng ở nơi có các đơn vị xí nghiệp đó và khả năng cân đối ngân sách của huyện, quận, có thể quyết định phân cấp việc trích một phần hoặc toàn bộ số phải nộp về quỹ phúc lợi cho ngân sách huyện, quận.

Các đơn vị xí nghiệp trung ương là những đơn vị phụ thuộc (hạch toán kinh tế nội bộ) trực thuộc tổng công ty, công ty, xí nghiệp Liên hợp, Liên hiệp các xí nghiệp v.v... không nằm trong cùng một tỉnh, thành phố và đặc khu với đơn vị cấp trên, thì căn cứ vào qũy phúc lợi của cấp trên phân phối đẻ trích cho ngân sách địa phương (tỉnh, thành phố) nơi xí nghiệp đóng.

Các Tổng công ty, công ty, xí nghiệp liên hợp, Liên hiệp các xí nghiệp trung ương hạch toán kinh tế tập trung, đóng ở địa phương nào thì trích quỹ phúc lợi của đơn vị cho ngân sách địa phương đó, sau khi trừ phần quỹ phúc lợi đã phân phối cho các đơn vị trực thuộc đóng ở các địa phương (tỉnh, thành phố) khác.

Các đơn vị có lỗ kế hoạch được lập quỹ phúc lợi theo chế độ hiện hành (tùy theo mức độ hoàn thành kế hoạch), bằng nguồn kinh phí cấp phát của ngân sách Nhà nước vẫn phải trích quỹ phúc lợi vào ngân sách địa phương theo quy định của thông tư này.

2 - Các đơn vị sau đây không thuộc diện trích quỹ phúc lợi cho ngân sách địa phương:

a) Các đơn vị, xí nghiệp trung ương nói ở điểm 1 do không hoàn thành kế hoạch mà chỉ được Nhà nước trợ cấp 2 quỹ phúc lợi và khen thưởng ở mức tối thiểu (hoặc trên mức tối thiểu đối với những trường hợp đặc biệt được Nhà nước cho phép).

b) Các đơn vị hành chính sự nghiệp (quản lý Nhà nước, các tổ chức Đảng, đoàn thể v.v... và các lực lượng vũ trang không hạch toán kinh tế mà sử dụng kinh phí Nhà nước cấp phát để chi tiêu, và hàng năm không được trích lập quỹ phúc lợi.

c) Một số đơn vị hành chính sự nghiệp chưa phải là đơn vị hạch toán kinh tế nhưng được trích lập một phần qũy phúc lợi thì cũng không thuộc đối tượng trích quỹ phúc lợi cho ngân sách địa phương theo quy định của thôngg tư này.

II - THỦ TỤC VÀ MỤC TRÍCH QUỸ PHÚC LỢI CHO NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1 - Mức trích quỹ phúc lợi của các đơn vị, xí nghiệp thuộc đối tượng nói trên cho ngân sách địa phương là 20% tổng số quỹ phúc lợi được xét duyệt hàng năm cho đơn vị đó (bao gồm số quỹ phúc lợi trích được từ các nguồn lợi nhuận trong kế hoạch, vượt kế hoạch, sản xuất chính, sản xuất phụ và các nguồn thu nhập khác được bổ sung vào quỹ phúc lợi theo chế độ hiện hành).

2 - Thời điểm đơn vị trích quỹ phúc lợi nộp cho ngân sách địa phương là thời điểm đơn vị được xét duyệt mức tạm trích hàng quý, hoặc cuối năm và thời điểm xét duyệt mức trích chính thức theo chế độ hiện hành.

Khi đơn vị được trích quỹ phúc lợi hàng quý thì hàng quý phải nộp ngay vào ngân sách địa phương 20% số quỹ phúc lợi được tạm trích.

Khi đơn vị được tạm trích 75% qũy phúc lợi vào dịp cuối năm thì phải nộp ngay vào ngân sách địa phương 20% số được tạm trích đó.

Sau khi có báo cáo quyết toán năm và được cấp trên xét duyệt mức trích 3 quỹ chính thức, các đơn vị xí nghiệp nói trên căn cứ vào tổng số quỹ phúc lợi được duyệt để thanh toán với ngân sách địa phương số phải nộp: nếu số tạm nộp chưa đủ thì phải trích nộp bổ sung cho đủ; nếu số tạm nộp vượt quá số phải nộp thì các đơn vị được trừ vào số phải nộp của năm sau, hoặc ngân sách địa phương phải thoái trả theo yêu cầu cụ thể của đơn vị.

Quỹ phúc lợi còn lại của các đơn vị xí nghiệp, sau khi đã nộp ngân sách địa phương, được sử dụng theo đúng những quy định hiện hành.

III - SỬ DỤNG QUỸ PHÚC LỢI TẬP TRUNG CỦA ĐỊA PHƯƠNG   

1 - Phần quỹ phúc lợi của các đơn vị xí nghiệp trung ương trích vào ngân sách địa phương được lập thành quỹ phúc lợi tập trung của địa phương; gửi vào tài khoản riêng ở ngân hàng Nhà nước, do sở tài chính quản lý và mở sổ sách theo dõi hạch toán, quyết toán riêng.

2 - Quỹ phúc lợi tập trung của địa phương được coi là một khoản thu và đưa vào cân đối trong kế hoạch thu chi ngân sách địa phương để sử dụng vào mục đích phúc lợi công cộng theo kế hoạch hàng năm do UBND tỉnh, thành phố và đặc khu duyệt, với sự tham gia của tổ chức công đoàn tỉnh, thành phố, đặc khu và các đơn vị xí nghiệp trung ương đã trích nộp quỹ phúc lợi cho ngân sách địa phương. Nếu huyện, quận được tỉnh phân cấp quản lý một phần quỹ này thì do UBND huyện, quận dụyệt có sự tham gia của tổ chức công đoàn địa phương và các đơn vị xí nghiệp đã có đóng góp.

Địa phương không được sử dụng quỹ phúc lợi tập trung vào cac công việc khác ngoài mục đích phúc lợi công cộng (như khen thưởng, bù lỗ, bù giá, bổ sung vốn v.v...) về các mục đích sản xuất kinh doanh khác.

Ngoài việc trích nộp quỹ phúc lợi của các đơn vị xí nghiệp trung ương đóng tại địa phương theo những quy định trên đây, các địa phương không được tự ý bắt các đơn vị xí nghiệp trung ương đóng góp thêm những khoản khác ngoài chế độ chung của Nhà nước đã quy định cho địa phương; đồng thời phải thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách Nhà nước quy định và đảm bảo quyền lợi về phúc lợi công cộng cho các đơn vị xí nghiệp trung ương đóng trên lãnh thổ thuộc địa phương quản lý.

IV - ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

1 - Các đơn vị xí nghiệp trung ương thuộc đối tượng trích nộp quỹ phúc lợi vào ngân sách địa phương, Sở tài chính các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương phải nghiêm chỉnh chấp hành những quy định trong thông tư này. Đơn vị xí nghiệp nào vi phạm sẽ bị phạt trừ khi xét duyệt khen thưởng và trích lập các quỹ xí nghiệp theo chế độ hiện hành.

2 - Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1984 và được áp dụng để tính toán số trích nộp vào ngân sách địa phương từ quỹ phúc lợi được duyệt chính thức năm 1983 của các đơn vị xí nghiệp trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương./.

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính

31/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính

Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt

Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTCBộ Tài chính

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTСBộ Tài chính

Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC

Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
01/VBHN-BTCBộ Tài chính

Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
02/VBHN-BTСBộ Tài chính

Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản

Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.