Thông tư liên tịch

Thông tư quy định chế độ chữa bệnh đối với thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bệnh binh và quân nhân phục viên đã về địa phương

Số hiệu: 19-TT/LB

Cơ quan ban hành
Bộ Nội vụ
Ngày ban hành
19/3/1962
Ngày hiệu lực
19/3/1962
Người ký
Tô Quang Ðẩu
Chức danh người ký
Thứ trưởng
Lĩnh vực
Khám chữa bệnh
Còn hiệu lựcThông tư liên tịch

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

Quy định chế độ chữa bệnh đối với thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bệnh binh và quân nhân phục viên đã về địa phương 

________________________

BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ - BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ - BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

Kính gửi:

Các Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh
Các Sở và Ty Y tế
Các Sở và Ty Tài chính

Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 01 tháng 03 năm 1961, Liên bộ ra Thông tư này quy định chế độ chữa bệnh như sau đối với:

- Thương binh bị vết thương, bệnh cũ trong thời gian tại ngũ tái phát,

- Dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật bị vết thương tái phát,

- Bệnh binh và quân nhân phục viên bị bệnh cũ trong thời gian tại ngũ tái phát.

I. CHỮA BỆNH Ở BỆNH VIỆN

Những anh chị en được thu nhận vào bệnh viện được miễn viện phí (bao gồm tiền ăn, tiền thuốc, tiền bồi dưỡng) và hưởng chế độ điều trị như cán bộ sơ cấp. Nếu anh chị em chết ở bệnh viện thì được trợ cấp chi phí chôn cất theo chế độ trợ cấp chôn cất đối với công nhân, viên chức Nhà nước (bệnh viện sẽ cùng gia đình anh chị em lo việc mai táng).

II. CHỮA BỆNH NGOẠI TRÚ

Những anh chị em được bệnh viện chữa bệnh ngoại trú (theo tiêu chuẩn chung của Bộ Y tế quy định) hưởng chế độ như sau:

- Ăn: mỗi ngày 0đ80 ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng; 0đ60 ở các tỉnh khác (do Ủy ban hành chính tỉnh cấp).

- Ở: nếu cần phải trả tiền trọ thì cấp mỗi ngày từ 0đ20 đến 0đ30 tùy theo giá trọ ở địa phương (do Ủy ban hành chính tỉnh cấp).

- Thuốc: tùy theo nhu cầu của bệnh viện và khả năng của bệnh viện.

- Nếu chết: được trợ cấp chi phí chôn cất như trường hợp chết ở bệnh viện.

Nếu bệnh thuộc diện chữa ngoại trú mà bệnh việc xét y tế xã hay khu phố có thể thực hiện được đơn điều trị thì cho đơn và cấp thuốc theo đơn đó để anh chị em về nhà chữa (không hưởng chế độ ngoại trú). Khi tiêm thuốc ở các trạm y tế xã, trạm y tế dân lập, anh chị em được miễn trả tiền công tiêm.

Nếu là bệnh thông thường, bệnh viện, tùy theo khả năng cấp thuốc cho anh chị em mang về sử dụng.

III. ĐIỀU DƯỠNG

Những thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bệnh binh và quân nhân phục viên bị vết thương hay bệnh cũ tái phát, được thu nhận vào các viện điều dưỡng để phục hồi sức khỏe (theo quy định trong Thông tư số 03-BYT/TT ngày 10 tháng 02 năm 1962 của Bộ Y tế) hoặc vào viện điều dưỡng về bệnh tinh thần kinh do Bộ Y tế quản lý.

Khi vào viện điều dưỡng, anh chị em hưởng theo chế độ đối với cán bộ sơ cấp đi điều dưỡng. Nếu phụ cấp thương tật, phụ cấp sản xuất hay an dưỡng, hoặc trợ cấp mất sức lao động hàng tháng thấp hơn mức sinh hoạt của viện điều dưỡng, thì anh chị em được hưởng theo mức sinh hoạt của viện điều dưỡng; nếu phụ cấp cao hơn, thì anh chị em được hưởng khoản chênh lệch.

Khi sức khỏe đã bình phục, anh chị em sẽ trở về địa phương làm ăn.

Anh chị em chết ở viện điều dưỡng được chôn cất như trường hợp chết ở bệnh viện.

IV. ĐỐI VỚI NHỮNG ANH CHỊ EM BỊ BỆNH TINH THẦN KINH

Những thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bệnh binh và quân nhân phục viên, bị bệnh tinh thần kinh (điên) sẽ được các bệnh viện thu nhận và chữa bệnh. Nếu chưa có điều kiện thu nhận ngay, các bệnh viện cần khám bệnh và cấp thuốc cho anh chị em.

Trong thời gian chưa được thu nhận vào bệnh viện, những anh chị em bị bệnh tinh thần kinh được trợ cấp mỗi tháng 18 đồng hoặc 22 đồng tùy theo mức độ bệnh:

- Hoàn toàn mất trí, không lao động được, không có hành động đập phá, xé quần áo… được trợ cấp mỗi tháng 18 đồng một tháng.

- Hoàn toàn mất trí, không lao động được, có những cơn kích động như đập phá, đánh người, xé quần áo, đi lang thang, cần có người coi giữ… được trợ cấp 22 đồng một tháng.

Những anh chị em đã được hưởng phụ cấp thương tật, phụ cấp sản xuất hay an dưỡng, hoặc trợ cấp mất sức lao động hàng tháng mà mức phụ cấp hoặc trợ cấp thấp hơn mức 18 đồng hoặc 22 đồng, thì được trợ cấp thêm cho đủ 18 đồng hoặc 22 đồng.

Việc trợ cấp nói trên do Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố, khu quyết định, căn cứ vào đề nghị của Ủy ban hành chính xã và sự khám xét của Hội đồng giám định y khoa địa phương. Cứ 2 năm một lần, anh chị em được khám xét lại, nếu đã khỏi bệnh thì không được hưởng trợ cấp nữa. Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố khu sẽ cấp phiếu lĩnh trợ cấp (đối với bệnh binh) hoặc phiếu lĩnh số tiền chênh lệch (đối với thương binh và quân nhân phục viên đã được trợ cấp mất sức lao động) đính kèm vào sổ phụ cấp thương tật và sổ trợ cấp mất sức lao động, để anh chị em lĩnh hàng quý.

Số tiền trợ cấp nói trên sẽ do người vẫn nuôi nấng anh chị em khi bị điên đi lĩnh thay, quản lý và sử dụng vào việc nuôi nấng anh chị em.

Khi đã được thu nhận vào bệnh viện, viện điều dưỡng thì anh chị em không được hưởng khoản trợ cấp nói trên mà hưởng theo chế độ điều trị ở bệnh viện hay chế độ điều dưỡng.

V. CẤP TIỀN ĂN VÀ ĐI ĐƯỜNG KHI ĐI CHỮA BỆNH

- Tiền ăn và đi đường từ nhà đến bệnh viện tỉnh do anh chị em tự túc. Nếu anh chị em bị ốm nặng Ủy ban hành chính xã cần giúp phương tiện đưa đi.

- Nếu anh chị em được khám và chữa bệnh, rồi trở về nhà hoặc được bệnh viện giới thiệu đến một bệnh viện khác, mà phải đi lại xa, tốn kém, thì được cấp tiền ăn và đi đường.

Tiền ăn và đi đường gồm: tiền ăn dọc đường, tiền tàu, xe ôtô nếu cần (không cấp cước phí xe đạp). Nếu đường đi có xe lửa, thương binh đã được miễn tiền vé thì không cấp tiền đi xe lửa, thương binh được giảm 1/2 vé thì chỉ được cấp 1/2 tiền vé.

Bệnh viện cấp tiền ăn và đi đường cho những anh chị em đã được thu nhận vào chữa bệnh ở bệnh viện rồi trở về nhà hoặc chuyển viện.

Ủy ban hành chính tỉnh cấp tiền ăn và đi đường cho những anh chị em được khám bệnh rồi trở về nhà, được khám bệnh và giới thiệu đến một bệnh viện khác, được chữa bệnh ngoại trú rồi trở về nhà.

VI. CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG

a) Khi anh chị em đến khám bệnh, các Phòng khám bệnh cần thu xếp để anh chị em không phải chờ đợi lâu, nhất là đối với những anh chị em ở xa và ở các tỉnh khác tới. Nói chung nên khám cho anh chị em trước, nhưng sau các bệnh cấp và trẻ em.

b) Muốn được khám và chữa bệnh, anh chị em phải có những giấy tờ sau đây:

- giấy giới thiệu của Ủy ban hành chính xã nếu đi khám và chữa bệnh ở bệnh xá huyện;

- giấy giới thiệu của Ủy ban hành chính xã hay khu phố, thị xã và giấy giới thiệu của bệnh xá huyện hay y tế khu phố, thị xã nếu đi khám và chữa bệnh ở bệnh viện tỉnh hay thành phố.

- giấy giới thiệu của Ủy ban hành chính tỉnh hay thành phố và của bệnh viện tỉnh hay thành phố, nếu đi khám và chữa bệnh ở các bệnh viện ngoài tỉnh hay thành phố.

Anh chị em cần mang theo giấy chứng nhận thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, giấy chứng nhận bệnh binh, quân nhân phục viên và các giấy tờ cũ có ghi bệnh mắc phải trong thời gian tại ngũ. Nếu gặp trường hợp cấp cứu, anh chị em không kịp mang đủ giấy tờ nói trên thì sau đó anh chị em phải được chính quyền địa phương xác nhận.

Nếu được xét thu nhận vào các viện điều dưỡng, anh chị em phải có đủ giấy tờ theo quy định của Bộ Y tế.

c) Các khoản chi nói trong Thông tư này đều do ngân sách địa phương đài thọ (phần chi về công tác thương binh, quân nhân phục viên, liệt sĩ). Các bệnh viện sẽ thống kê các khoản chi phí cho từng bệnh nhân lập phiếu thanh toán với Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố, theo thể lệ hiện hành.

d) Những điều quy định trong Thông tư này chỉ áp dụng đối với anh chị em đã về địa phương bị vết thương cũ hoặc bệnh cũ trong thời gian tại ngũ tái phát. Những anh chị em còn ở trại thương binh và ở các viện điều dưỡng sẽ theo chế độ chữa bệnh ở trại thương binh và viện điều dưỡng.

Những anh chị em làm nghĩa vụ quân sự trở về, nếu không phải là thương binh hoặc không được trợ cấp mất sức lao động theo nhữ đã quy định trong Thông tư số 95-TTg ngày 11 tháng 03 năm 1961 của Thủ tướng Chính phủ, thì không hưởng theo chế độ quy định trong Thông tư này.

e) Các quy định trước đây trái với Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, đã được thể hiện cụ thể trong Thông tư này, đều bãi bỏ.

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng lĩnh vực: Khám chữa bệnh

36/2025/NQ-HĐNDHội đồng Nhân dân tỉnh Cà Mau

Bãi bỏ Nghị quyết số 29/2024/NQ-HĐND ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bạc Liêu quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do Ngân sách nhà nước thanh toán; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Còn hiệu lựcBan hành: 30/12/2025Nghị quyết
31/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Quy định danh mục, nội dung gói dịch vụ y tế cơ bản do trạm y tế cơ bản do trạm y tế xã, phương thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Còn hiệu lựcBan hành: 17/11/2025Quyết định
73/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Mắt Thái Bình thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 18/9/2025Quyết định
74/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Sức khoẻ tâm thần Hưng Yên thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 18/9/2025Quyết định
65/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Đa khoa Tiền Hải thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 17/9/2025Quyết định
66/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Đa khoa Trần Lãm thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 17/9/2025Quyết định

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Nội vụ

02/2026/TT-BNVBộ Nội vụ

Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành, liên tịch ban hành

Còn hiệu lựcBan hành: 15/1/2026Thông tư
01/2026/TT-BNVBộ Nội vụ

Hướng dẫn xếp lương đối với người được tuyển dụng vào công chức

Còn hiệu lựcBan hành: 9/1/2026Thông tư
27/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Quy định về việc lập, quản lý hồ sơ địa giới đơn vị hành chính

Còn hiệu lựcBan hành: 30/12/2025Thông tư
26/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Ban hành Danh mục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường

Còn hiệu lựcBan hành: 29/12/2025Thông tư
25/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 Thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về chế độ đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Còn hiệu lựcBan hành: 29/12/2025Thông tư
24/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 09/2005/TT-BNV ngày 05 tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang

Còn hiệu lựcBan hành: 24/12/2025Thông tư
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.