|
THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn thực hiện chính sách đối với quân nhân phục viên theo Quyết định số 178-CP ngày 20-7-1974 của Hội đồng Chính phủ ________________________ Ngày 20 tháng 07 năm 1974, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 178-CP sửa đổi chính sách đối với quân nhân chuyển ngành, phục viên. Liên Bộ Quốc phòng – Nội vụ - Tài chính, sau khi đã thống nhất với Bộ Lao động ra thông tư này hướng dẫn thực hiện cụ thể chính sách đối với quân nhân phục viên nói ở điểm 1 và điểm 2, mục B của Quyết định số 178-CP của Hội đồng Chính phủ. I. ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG CHÍNH SÁCH PHỤC VIÊN THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 178-CP CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ Những quân nhân thuộc diện sau đây, phục viên về gia đình từ ngày 1 tháng 7 năm 1974 trở về sau, thuộc đối tượng được hưởng chính sách phục viên theo Quyết định số 178-CP ngày 20-7-1974 của Hội đồng Chính phủ: - Những quân nhân đã công tác liên tục trong Quân đội từ 5 năm tròn (60 tháng) trở lên, gồm các cán bộ từ cấp chuẩn úy trở lên, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và chiến sĩ; - Những quân nhân tuy chưa đủ thời gian công tác liên tục trong Quân đội từ 5 năm tròn trở lên nhưng là thương binh đựơc xếp hạng thương tật (từ hạng 1 đến hạng 8); những quân nhân do chiến đấu công tác ở chiến trường B, C mà mắc bệnh kinh niên, mãn tính, có giấy xác nhận của y, bác sĩ và giới thiệu của thủ trưởng các đơn vị Quân đội từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên. (Số mang bệnh từ nhà vào đơn vị, đi chiến trường một thời gian rồi bị tái phát thì không thuộc diện này). II. NỘI DUNG CHÍNH SÁCH CỤ THỂ. A. CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP 1. Quân nhân thuộc diện nói ở mục I trên đây, khi phục viên được hưởng: a) Trợ cấp một lần: Trước khi phục viên quân nhân phục viên được hưởng khoản trợ cấp một lần, tính gheo thời gian phục vụ liên tục của mỗi người. Nếu là quân nhân hưởng lương (sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp) thì cứ mỗi năm phục vụ được tính bằng một nửa (1/2) tháng lương chính và các khoản phụ cấp thương xuyên khác trước khi phục viên gồm phụ cấp thâm niêm, phụ cấp quân hàm đối với quân nhân chuyên nghiệp, phụ cấp trách nhiệm đối với quân nhân chuyên nghiệp lái xe con, và phụ cấp khu vực, trợ cấp con (nếu có). Nếu là quân nhân hưởng chế độ cung cấp thì cứ mỗi năm phục vụ thì được tính bằng một nửa (1/2) tháng sinh hoạt phí trước khi phục viên. Sinh hoạt phí gồm: - Tiền ăn theo mức quy định thống nhất là 21 đồng một tháng, - Tiền quân trang 6 đồng một tháng, - Tiền phụ cấp tiêu vặt theo cấp quân hàm và theo năm phục vụ của mỗi người trước khi phục viên. Thời gian phục vụ được tính để hưởng khoản trợ cấp một lần nói trên là thời gian công tác liên tục của mỗi người, kể từ ngày được tuyển dụng vào làm việc ở cơ quan từ cấp huyện, thị xã trở lên (cơ quan dân, chính, đảng, thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước tập trung, Quân đội) cho đến ngày phục viên. Trường hợp trước đây đã phục viên hoặc thôi việc sau đó tái ngũ, hoặc được tuyển dụng lại một thời gian rồi vào Quân đội, nay lại phục viên thì thời gian để tính hưởng trợ cấp một lần, chỉ tính từ ngày tái ngũ hoặc ngày tuyển dụng trở lại cho đến ngày phục viên. Đối với thương binh được xếp hạng thương tật (từ hạng 1 đến hạng 8); đối với bệnh binh ở chiến trường B, C bị bệnh kinh niên, mãn tính, khoản trợ cấp một lần theo cách tính trên đây nếu chưa bằng 2 tháng rưỡi lương, phụ cấp sinh hoạt phí thì được trợ cấp cho bằng 2 tháng rưỡi lương, phụ cấp hoặc sinh hoạt phí theo như mức của những người có 5 năm tròn phục vụ trong Quân đội. Ví dụ 1: Một quân nhân, lương chính là 54 đồng ở vùng có phụ cấp khu vực 10% có 12 năm công tác ở cơ quan Nhà nước, có 6 năm tròn phục vụ trong Quân đội, trợ cấp một lần như sau: Lương và phụ cấp hàng tháng là: - Lương chính = 54,00 đ - Phụ cấp thâm niên 54đ x 6% = 3,24 đ - Phụ cấp khu vực 54đ x 10% = 5,40 đ Cộng 62,64 đ Trợ cấp một lần trước khi phục viên là:
Ví dụ 2: Một quân nhân bị thương được xếp hạng 2, có mức sinh hoạt phí 34 đồng, có 3 năm tuổi quân, trợ cấp một lần trước khi phục viên là: Có 3 năm tuổi quân, khoản trợ cấp một lần chưa bằng mức 2 tháng rưỡi sinh hoạt phí, nên được trợ cấp bằng 2 tháng rưỡi sinh hoạt phí: 34đ x 2,5 = 85 đồng. b) Trợ cấp hàng tháng: Kể từ ngày phục viên, quân nhân phục viên được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng, tính theo thời gian phục vụ liên tục trong Quân đội của mỗi người, cụ thể như sau: - Nếu là quân dân hưởng lương: cứ mỗi năm phục vụ trong Quân đội, được trợ cấp hàng tháng bằng 20% mức lương chính thức của một tháng trước khi phục viên. Mức độ trợ cấp hàng tháng tính trên đây, nếu chưa bằng 12 đồng một tháng thì cũng được trợ cấp bằng 12 đồng một tháng. - Nếu là quân nhân hưởng chế độ cung cấp, có từ 5 năm tròn đến 10 năm tròn phục vụ trong Quân đội, được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng bằng 10 đồng; những người có trên 10 năm phục vụ trong Quân đội, thì cứ thêm mỗi năm phục vụ, được hưởng thêm trợ cấp một đồng một tháng. Thời gian phục vụ trong Quân đội của mỗi người được tính để định mức trợ cấp hàng tháng tính theo tuổi quân đã được xác định trước khi phục viên như đã nói trong nghị định số 334-NĐ ngày 8-11-1957 và quy định số 247-QP ngày 30-9-1965 của Bộ Quốc phòng. Thời gian đựơc hưởng khỏan trợ cấp hàng tháng nói trên, nhiều nhất là bằng một nửa (1/2) thời gian phục vụ trong Quân đội của mỗi người, kể từ ngày phục viên. Đối với những quân nhân đã nhập ngũ trước ngày 20 tháng 7 năm 1954 nếu tính đến ngày phục viên đã có đủ 20 năm công tác liên tục thì được hưởng trợ cấp hàng tháng nói trên cho đến khi chết. Đối với thương binh xếp hạng thương tật (từ hạng 1 đến hạng 8), đối với bệnh binh ở chiến trường B, C bị bệnh kinh niên mãn tính, thời gian được hưởng trợ cấp hàng tháng theo cách tính trên đây, nếu chưa bằng 2 năm rưỡi (30 tháng) thì được trợ cấp hàng tháng trong thời gian 2 năm rưỡi (30 tháng) như thời gian được hưởng trợ cấp hàng tháng của những người có 5 năm tròn phục vụ trong Quân đội. Ví dụ 1: Một quân nhân có mức lương chính 54 đồng và có 5 năm phục vụ trong cơ quan, xí nghiệp Nhà nước và 15 năm phục vụ trong Quân đội được hưởng trợ cấp hàng tháng như sau:
Mỗi tháng được hưởng 16,20đ, trong thời gian 7 năm rưỡi, kể từ ngày phục viên (Không tính thời gian 5 năm đã phục vụ ở cơ quan xí nghiệp Nhà nước). Ví dụ 2: Một quân nhân hưởng chế độ cung cấp có 15 năm phục vụ trong Quân đội, được hưởng trợ cấp hàng tháng là 15 đồng. Mỗi tháng được hưởng 15 đồng, trong thời gian 7 năm rưỡi, kể từ ngày phục viên. Ví dụ 3: Một quân nhân hưởng chế độ cung cấp, bị thương xếp hạng 2, có 3 năm phục vụ trong Quân đội, khi phục viên được hưởng trợ cấp như sau: Có 3 năm phục vụ trong Quân đội, thời gian được hưởng trợ cấp hàng tháng chưa bằng 2 năm rưỡi (30 tháng) nên được hưởng trợ cấp hàng tháng trong thời gian 2 năm rưỡi (30 tháng) theo mức mỗi tháng 10 đồng. 2. Quân nhân là thương binh, được xếp hạng thương tật, khi phục viên về gia đình hoặc chuyển sang trại an dưỡng của Nhà nước thì ngoài khoản trợ cấp thương tật về gia đình như đã quy định ở điều 9 của Điều lệ tạn thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân … còn được hưởng khoản trợ cấp phục viên theo như quy định của điểm 1, 2 mục B của Quyết định số 178-CP ngày 20-7-1974 của Hội đồng Chính phủ. Riêng đối với những quân nhân hưởng lương là thương binh, khi phục viên về gia đình hoặc chuyển sang trại an dưỡng, mức trợ cấp hàng tháng gồm cả 2 khoản trợ cấp thương tật và trợ cấp phục viên hàng tháng công lại, nhiều nhất cũng không vượt quá mức lương chính hàng tháng của mỗi người trước khi phục viên. Ví dụ 1: Một quân nhân hưởng chế độ cung cấp có 1, 2 năm phục vụ trong Quân đội, xếp hạng thương tật 3 vinh viễn, khi phục viên về gia đình được hưởng trợ cấp hàng tháng như sau: - Trợ cấp thương tật hàng tháng khi về gia đình: 14 đồng, - Trợ cấp phục viên hàng tháng khi về gia đình: 12 đồng/tháng (trong thời gian 6 năm kể từ ngày phục viên) Cộng là 26 đồng một tháng. Hết thời hạn lĩnh trợ cấp phục viên trong 6 năm thì chỉ tiếp tục lĩnh trợ cấp thương tật hàng tháng là 14 đồng. Ví dụ 2: Một quân nhân hưởng lương, có mức lương chính là 54 đồng, có 18 năm phục vụ trong Quân đội, bị thương xếp hạng 7 khi phục viên về gia đình được hưởng trợ cấp hàng tháng như sau: - Trợ cấp hương tật hàng tháng (hạng 7 bằng 70% lương): đồng - Trợ cấp phục viên hàng tháng: đồng (hưởng trong thời gian 9 năm) Cộng là: 57,24 đồng Nhưng vì mức trợ cấp 57,24 đồng cao hơn lương chính trước khi phục viên (54 đồng), nên hàng tháng chỉ được hưởng trợ cấp bằng mức lương chính trước khi phục viên là 54 đồng: - Trợ cấp thương tật hàng tháng :37,80 đồng - Trợ cấp phục viên hàng tháng 54 – 37,80đ = 16,20 đống (trong thời gian 9 năm) Cộng: 54 đồng Hết thời hạn lĩnh trợ cấp phục viên trong 9 năm sẽ chỉ tiếp tục lĩnh trợ cấp thương tật hàng tháng là 37,80 đ. 3. Những quân nhân bị thương, bị bệnh do các đơn vị Quân đội chuyển về các trạm, trường thuộc ngành thương binh xã hội của Nhà nước trước đây theo quy định trong thông tư số 51-TTg/NC ngày 17-05-1965 của Hội đồng Chính Phủ, nay nếu được chuyển về gia đình thì cũng được thực hiện theo chính sách phục viên như đã hướng dẫn thêm ở điểm 1 và 2 trên đây: - Thời gian để tính các khoản trợ cấp lần đầu, được tính cả thời gian phục vụ ở cơ quan, xí nghiệp Nhà nước (nếu có), thời gian phục vụ trong Quân đội và thời gian học tập, công tác, lao động sản xuất ở các trạm, trường thuộc ngành thương binh xã hội. - Thời gian để tính hưởng trợ cấp phục viên hàng tháng, chỉ tính theo tuổi quân đã được xác nhận trước khi chuyển sang các trạm, trường thuộc ngành thương binh xã hội. 4. Quân nhân phục viên về địa phương vì vi phạm pháp luật bị kết án phạt giam thì trong thời gian bị phạt giam không được tiếp tục hưởng khoản trợ cấp phục viên hàng tháng. Sau khi hết hạn phạt giam, thì Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố xem xét và Quyết định, tùy theo tội nặng nhẹ mà tiếp tục cho hưởng hoặc không cho hưởng trợ cấp, theo như quy định ở điều 4 của Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ đối với quân nhân ốm đau, bị thương, mất sức lao động, về hưu… B. CHẾ ĐỘ TẠM HOÃN ĐI DÂN CÔNG VÀ LAO ĐỘNG NGHĨA VỤ 1. Quân nhân về địa phương đựơc tạm hõan đi dân công và lao động nghĩa vụ trong thời gian 1 năm đầu, kể từ ngày về địa phương. 2. Những quân nhân đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở các chiến trường, bị bệnh kinh niên, mãn tính, sau thời gian một năm đầu được tạm hoãn đi dân công, nếu bệnh cũ tái phát, sức khỏe vẫn còn giảm sút, được y, bác sĩ ở địa phương đề nghị, thì được xét tạm hoãn thêm một thời gian cho đến khi sức khỏe hồi phục. 3. Quân nhân bị thương được xếp hạng (từ hạng 1 đến hạng 8) thì được miễn làm nghĩa vũ dân công theo như chính sách đã quy định. III. TỔ CHỨC VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN Căn cứ theo nghị quyết số 178-CP ngày 20-7-1974 của hội Hội đồng Chính Phủ, để bảo đảm việc tổ chức thực hiện chính sách được chu đáo, Liên Bộ xác định rõ thêm một số điểm sau đây: 1. Việc tổ chức và cấp phát trợ cấp một lần, cấp sổ trợ cấp phục viên hàng tháng cho quân nhân phục viên trước khi chuyển ra ngoài do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm. Sổ trợ cấp phục viên (theo mẫu thống nhất gửi kèm theo) sẽ do thủ trưởng đơn vị quản lý quân nhân trước khi phục viên từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên, ký tên và đóng dấu. Kể từ ngày phục viên, quân nhân phục viên sẽ dùng sổ trợ cấp phục viên để lĩnh trợ cấp, mỗi quý một lần, tại địa phương nơi sinh sống hoặc cư trú. 2. Việc cấp phát khoản trợ cấp hàng tháng cho quân nhân phục viên kể từ ngày phục viên sẽ do một cơ quan có trách nhiệm của Nhà nước đảm nhiệm. Trong khi chờ đợi có sự phân công trách nhiệm của Chính phủ, từ nay đế hết năm 1975, Quân đội tạm thời tổ chức việc cấp phát trợ cấp hàng tháng cho quân nhân phục viên theo các quy định nói ở điểm 2 mục B của Quyết định số 178-CP của Hội đồng Chính Phủ. Từ ngày 01 tháng 01 năm 1976 trở đi, việc cấp phát khoản trợ cấp này sẽ do một cơ quan có trách nhiệm bên ngoài Quân đội đảm nhiệm. Khoản trợ cấp hàng năm do quân nhân phục viên do ngân sách Nhà nước đài thọ, Bộ Quốc phòng dự trù và quyết toán với Bộ Tài chính. Những nội dung hướng dẫn ở mục I và II trên đây được thi hành thống nhất kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1974 và áp dụng đối với cả cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân vũ trang thuộc diện phục viên về gia đình. |
||||||||
Thông tư liên tịch
Hướng dẫn thực hiện chính sách đối với quân nhân phục viên theo Quyết định số 178-CP ngày 20-7-1974 của hội đồng Chính phủ
Số hiệu: 179-TT/QP/NV/TC
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 12/11/1974
- Ngày hiệu lực
- 12/11/1974
- Người ký
- Lê Đình Thiệp
- Chức danh người ký
- Thứ trưởng
- Lĩnh vực
- Quản lý ngân sách; Tài chính khác
Còn hiệu lựcThông tư liên tịch
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng lĩnh vực: Quản lý ngân sách; Tài chính khác
04/2018/TT-BTC•Bộ Tài chính
Hướng dẫn quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng
Còn hiệu lựcBan hành: 17/1/2018Thông tư
01/2018/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm trật tự an toàn giao thông
Còn hiệu lựcBan hành: 2/1/2018Thông tư
08/2009/TT-BTC•Bộ Tài chính
Hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có mức lương thấp, đời sống khó khăn và điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc năm 2009
Còn hiệu lựcBan hành: 16/1/2009Thông tư
04/2007/TTLT-BNV-BTC-BTNMT-BLĐTBXH•Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội
Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ ăn định lượng và chế độ thiếu nước ngọt đối với công nhân, viên chức làm nhiệm vụ trên biển trong các đơn vị sự nghiệp thuộc các ngành địa chính, địa chất và khí tượng thuỷ văn
Còn hiệu lựcBan hành: 22/10/2007Thông tư liên tịch
15/2007/TTLT-BCA-BTC-BKH&ĐT•Bộ Kế hoạch và Ðầu tư
Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2006/NĐ-CP ngày 10 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân
Hết hiệu lực toàn bộBan hành: 24/9/2007Thông tư liên tịch
13/2007/TTLT-BLĐTBXH-BNV-BTC•Bộ Tài chính
Hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma tuý, người bns dâm và người sau cai nghiện ma tuý
Còn hiệu lựcBan hành: 20/8/2007Thông tư liên tịch
Cùng cơ quan ban hành: Bộ Tài chính
31/2026/TT-BTC•Bộ Tài chính
Quy định về phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính
Hết hiệu lực một phầnBan hành: 27/3/2026Thông tư
11/2026/TT-BTС•Bộ Tài chính
Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Thông tư
08/2026/TT-BTC•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC và Thông tư số 18/2025/TT- BTC, Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC, Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 68/2024/TT-BTC
Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BTС•Bộ Tài chính
Sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2020/TT-BTC
Còn hiệu lựcBan hành: 26/1/2026Thông tư
01/VBHN-BTC•Bộ Tài chính
Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước
Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
02/VBHN-BTС•Bộ Tài chính
Quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản
Còn hiệu lựcBan hành: 5/1/2026Văn bản hợp nhất
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.