Thông tư liên tịch

Hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước

Số hiệu: 07/2015/TTLT-BCA-BQP-BYT

Cơ quan ban hành
Bộ Công an
Ngày ban hành
19/10/2015
Ngày hiệu lực
15/12/2015
Người ký
Thượng tướng Lê Quý Vương
Chức danh người ký
Thứ trưởng
Lĩnh vực
Quản lý Khám, chữa bệnh
Còn hiệu lựcThông tư liên tịch

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

Hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân,

trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng do Bộ Công an,

Bộ Quốc phòng quản lý tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước

________________________

 

Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2014 ca Chính phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưng và cơ sở giáo dục bắt buộc;

Căn cNghị định s 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 ca Chính phquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tchức của Bộ Công an;

Căn cNghị định số 35/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyn hạn và cơ cu tchức ca Bộ Quốc phòng;

Căn cứ Nghị định s63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 ca Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyn hạn và cơ cu tchức ca Bộ Y tế;

Để thực hiện thống nht các quy định về việc khám bệnh, cha bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước đi với người bị tm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ s giáo dục bt buộc, học sinh trường giáo dưỡng, Bộ trưng Bộ Công an, Bộ trưng Bộ Quc phòng, Bộ trưng Bộ Y tế hướng dn như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư liên tịch này hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh và quản lý người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng (gọi chung là đối tượng quản lý) do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện đến Trung ương và tương đương của Nhà nước.

Điều 3. Nguyên tắc thực hiện

1. Thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước trong khám bệnh, chữa bệnh và bảo đảm các chế độ ăn, ở, sinh hoạt, điều trị đối với người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Bảo đảm yêu cầu quản lý, giam giữ người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng và quan hệ phối hợp giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng trong công tác khám bệnh, chữa bệnh đối với những đối tượng này.

Điều 4. Kinh phí bảo đảm

Kinh phí thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng được bảo đảm từ ngân sách Nhà nước trong dự toán kinh phí hàng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Chương II

KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH TẠI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ,

TẠM GIAM, PHẠM NHÂN, TRẠI VIÊN CƠ SỞ GIÁO DỤC BẮT BUỘC, HỌC SINH TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG

Điều 5. Trách nhiệm của nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng

1. Nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có trách nhiệm đưa đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh vượt quá khả năng chuyên môn điều trị của bệnh xá, bộ phận y tế của đơn vị mình (sau đây gọi tắt là y tế đơn vị) đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp huyện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất.

2. Nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm bố trí phương tiện, cán bộ dẫn giải, quản lý và cán bộ y tế chuyển đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc khi chuyển đến nơi khám bệnh, chữa bệnh khác.

3. Nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có trách nhiệm cung cấp giấy chuyển viện, bản tóm tắt quá trình điều trị tại y tế đơn vị và thực hiện các trình tự, thủ tục điều chuyển đối tượng quản lý được khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế; đồng thời phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của họ biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh có thể tự nguyện hỗ trợ bồi dưỡng ăn uống, thuốc chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ cho người bệnh và trao đổi, phối hợp với nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh biết để phối hợp chăm sóc, quản lý. Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì việc trao đổi, phối hợp này phải được thủ trưởng cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý bằng văn bản.

4. Nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm quản lý, giám sát, bảo vệ đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh; phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện quy trình khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh như những bệnh nhân khác. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng quản lý, giám sát chặt chẽ những đối tượng này. Trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn điều trị của mình, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải kịp thời thông báo và phối hợp với nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng chuyển người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên để điều trị. Trường hợp đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh mắc bệnh nặng, diễn biến bất thường, tiên lượng bệnh xấu thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng biết, phối hợp cùng giải quyết.

2. Trong trường hợp cấp cứu, nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng không có phương tiện thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hỗ trợ phương tiện chuyên dụng vận chuyển người bệnh lên tuyến trên điều trị.

Trường hợp đối tượng quản lý đang cấp cứu cần phải tiến hành phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa mà không thể hỏi ý kiến của đối tượng quản lý hoặc nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng đã thông báo nhưng thân nhân, người đại diện hợp pháp của họ không đến hoặc chưa kịp đến để ký cam kết phẫu thuật thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện theo khoản 3 Điều 61 Luật khám bệnh, chữa bệnh.

3. Việc cung cấp thông tin có liên quan đến tình hình bệnh tật của đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải trao đổi và được sự đồng ý của cơ quan quản lý đối tượng được khám, chữa bệnh.

4. Khi đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh đến khám bệnh hoặc được điều trị ổn định được trả về nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tiến hành thủ tục ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh theo quy định tại khoản 7 Điều 58 Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý đối tượng được khám, chữa bệnh và các cơ quan chức năng khác có yêu cầu mượn hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc, sao chép bệnh án, kết luận tình trạng sức khỏe để phục vụ công tác nghiệp vụ hoặc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật thì được thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 59 Luật Khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 7. Phòng điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm bố trí phòng điều trị riêng cho đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh mắc bệnh cần phải điều trị nội trú và phòng ở cho cán bộ, chiến sĩ trực, quản lý, bảo vệ phù hợp với điều kiện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các yêu cầu về nghiệp vụ, quản lý đối tượng của lực lượng Công an, Quân đội.

2. Căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phối hợp với các nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng trên địa bàn, xây dựng và sử dụng chung khu điều trị riêng cho đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

3. Kinh phí để xây dựng, cải tạo, sửa chữa, lắp đặt các trang thiết bị, duy trì hoạt động chữa bệnh và công tác quản lý khu điều trị riêng hoặc một số buồng riêng cho đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do các nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc và trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm.

Điều 8. Chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt đối với đối tượng được khám, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước

1. Chế độ ăn, ở, sinh hoạt của đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được áp dụng như điều trị tại bệnh xá, bộ phận y tế của nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. Trường hợp phải ăn theo chế độ bệnh lý hoặc theo chỉ định của bác sĩ điều trị, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thông báo cho cơ quan quản lý đối tượng được khám, chữa bệnh để phối hợp thực hiện. Kinh phí ăn, ở, sinh hoạt do nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm và kinh phí hỗ trợ của gia đình đối tượng được khám, chữa bệnh hoặc từ nguồn kinh phí hợp pháp khác.

2. Chế độ mặc của đối tượng được khám, chữa bệnh nằm điều trị nội trú được thực hiện theo quy định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 9. Giải quyết trường hợp đối tượng được khám, chữa bệnh chết tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Trường hợp đối tượng được khám, chữa bệnh điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chết thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh làm thủ tục theo quy định tại Điều 65 Luật Khám bệnh, chữa bệnh và phối hợp cùng nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có đối tượng được khám, chữa bệnh chết giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Quan hệ phối hợp

1. Lãnh đạo cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và lãnh đạo nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có đối tượng được khám, chữa bệnh tại bệnh viện phải thường xuyên trao đổi hoặc tổ chức giao ban 06 tháng một lần để thực hiện Thông tư liên tịch này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

2. Cán bộ y tế của nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng phải thường xuyên liên hệ với các khoa, phòng trực tiếp điều trị cho đối tượng được khám, chữa bệnh để theo dõi tình trạng diễn biến bệnh lý của họ và hỗ trợ khi được yêu cầu.

Chương III

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 11. Hiệu lực thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2015

2. Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BCA-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2010 của Bộ Công an, Bộ Y tế hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh tại bệnh viện của Nhà nước hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực.

Điều 12. Trách nhiệm thi hành

1. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo việc hướng dẫn, kiểm tra các nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng trong phạm vi từng Bộ quản lý để tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm chỉ đạo các bệnh viện, Sở Y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước phối hợp với nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm tốt công tác khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng bị bệnh.

3. Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, trại giam, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vướng mắc, các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế để xem xét, phối hợp giải quyết./.

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng lĩnh vực: Quản lý Khám, chữa bệnh

02/2026/TT-BYTBộ Y tế

Sửa đổi Thông tư 57/2024/TT-BYT quy định việc phân cấp giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế

Còn hiệu lựcBan hành: 4/2/2026Thông tư
45/2025/TT-BYTBộ Y tế

bãi bỏ Thông tư 31/2015/TT-BYT quy định việc áp dụng chế độ bồi dưỡng, thời gian và số người thực hiện giám định đối với từng loại việc giám định pháp y, pháp y tâm thần

Còn hiệu lựcBan hành: 25/11/2025Thông tư
42/2025/TT-BYTBộ Y tế

quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt

Còn hiệu lựcBan hành: 14/11/2025Thông tư
71/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Phổi Thái Bình thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 18/9/2025Quyết định
72/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Phổi Hưng Yên thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 18/9/2025Quyết định
68/2025/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Đa khoa Thái Bình thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Còn hiệu lựcBan hành: 18/9/2025Quyết định

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Công an

13/2026/TT-BCABộ Công an

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2022/TT-BCA ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án nhân dân xem xét giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định, miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho học sinh trường giáo dưỡng, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc

Còn hiệu lựcBan hành: 3/2/2026Thông tư
06/2026/TT-BCABộ Công an

Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Công an

Còn hiệu lựcBan hành: 12/1/2026Thông tư
29/2025/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTCBộ Công an

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29 tháng 6 năm 2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

Còn hiệu lựcBan hành: 31/12/2025Thông tư liên tịch
137/2025/TT-BCABộ Công an

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 35/2022/TT-BCA ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong Công an nhân dân

Còn hiệu lựcBan hành: 31/12/2025Thông tư
131/2025/TT-BCABộ Công an

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 62/2023/TT-BCA ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và khám sức khỏe đối với lực lượng Công an nhân dân

Còn hiệu lựcBan hành: 25/12/2025Thông tư
124/2025/TT-BCABộ Công an

Quy định quản lý hội thảo, tọa đàm khoa học thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an

Còn hiệu lựcBan hành: 12/12/2025Thông tư
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.