Thông tư liên tịch

Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự

Số hiệu: 02/TTLN

Cơ quan ban hành
Bộ Nội vụ
Ngày ban hành
20/3/1993
Ngày hiệu lực
20/3/1993
Người ký
Đang cập nhật
Chức danh người ký
Đang cập nhật
Lĩnh vực
Hình sự - hành chính, xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực toàn bộThông tư liên tịch

Văn bản này đã hết hiệu lực

Vui lòng tra cứu văn bản thay thế trước khi áp dụng.

THÔNG TƯ LIÊN NGÀNH

số 02/TTLN ngày 20-3-1993 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,

Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Bộ luật Hình sự

__________________

 

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 22-12-1992 đã được Chủ tịch nước công bố ngày 2-1-1993, cho nên các quy định của Luật này được áp dụng đối với tất cả các hành vi phạm tội được thực hiện kể từ ngày 2-1-1993 trở đi.

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng tình tiết định khung hình phạt mới được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 của các điều 134, 135, 226, 227.

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

c. Trong trường hợp một người bị khởi tố, truy tố, xét xử về một tội nào đó với nhiều hành vi, trong đó có hành vi thực hiện trước, có hành vi thực hiện sau ngày 2-1-1993, thì áp dụng điều luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng nặng để khởi tố, truy tố, xét xử, nhưng khi quyết định hình phạt cần cân nhắc số lượng và tính chất của các hành vi được thực hiện trước cũng như các hành vi được thực hiện sau ngày 2-1-1993 để quyết định một mức hình phạt cho thoả đáng đối với tất cả các hành vi đó.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.

2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:

a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.

b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:

- Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 133);

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm d khoản 2 Điều 134).

- Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm d khoản 2 Điều 135);

Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm tội có lợi dụng chức vụ quyền hạn (khoản 2 Điều 137).

- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 156);

- Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong trường hợp người phạm tội có vụ lợi hoặc động cơ cá nhân (điểm a khoản 2 Điều 174);

- Tội lập quỹ trái phép (Điều 175);

- Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221);

- Tội giả mạo trong công tác (Điều 224);

- Tội nhận hối lộ (Điều 226);

- Tội đưa hối lộ trong trường hợp người phạm tội sử dụng công quỹ để đưa hối lộ (điểm e khoản 2 Điều 227).

3. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ PHẠT TIỀN

Theo quy định mới tại đoạn 1 Điều 23 thì việc phạt tiền được áp dụng đối với cả những người phạm một trong các tội có tính chất tham nhũng. Do đó, đối với các tội có tính chất tham nhũng mà ở "Phần các tội phạm" của Bộ luật Hình sự có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền (kể cả trường hợp quy định là "có thể" phạt tiền), thì Viện kiểm sát phải đề nghị áp dụng việc phạt tiền và Toà án phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, đối với các tội khác có tính chất tham nhũng mà ở "Phần các tội phạm" của Bộ luật Hình sự không quy định việc phạt tiền là hình phạt bổ sung thì không được áp dụng hình phạt này.

Đối với tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 97), theo quy định cũ thì có thể áp dụng phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không được áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nữa. Do đó, đối với các loại hành vi phạm tội này được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà nay mới xét xử sơ thẩm thì Toà án không áp dụng phạt tiền là hình phạt chính. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền mà sau ngày 2-1-1993 mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, thì Toà án không được thay hình phạt chính là hình phạt tiền bằng hình phạt tù nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.

4. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ CẤM ĐẢM NHIỆM CHỨC VỤ:

Đối với những người phạm một trong các tội như tham ô... (Điều 133), sử dụng trái phép... (Điều 137), thiếu trách nhiệm (Điều 139), theo quy định cũ tại khoản 1 của Điều 142, Toà án có thể áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm, nay theo quy định mới thì trong mọi trường hợp, Toà án đều phải áp dụng loại hình phạt bổ sung này. Trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã không áp dụng loại hình phạt bổ sung này mà sau ngày 2-1-1993 mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, thì Toà án chỉ áp dụng loại hình phạt bổ sung này nếu có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó.

Đối với người phạm một trong các tội quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 hoặc điểm d khoản 2 Điều 135, nếu tội phạm được thực hiện trước ngày 2-1-1993 thì Toà án không áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, nhưng nếu tội phạm được thực hiện kể từ ngày 2-1-1993 trở về sau thì Toà án phải áp dụng loại hình phạt bổ sung này.

5. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ TỊCH THU TÀI SẢN:

Đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội quy định tại các điều 169, 174 thì Toà án không được áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. VỀ ĐIỀU 174:

Điều 174 được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản theo hướng tăng nặng. Theo quy định cũ thì chỉ có hai khoản và mức hình phạt cao nhất theo điều luật này là mười hai năm tù, nay có ba khoản với mức hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù. Theo quy định cũ thì phải có yếu tố "vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác" mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nay yếu tố này được chuyển thành tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 2 của điều luật. Theo quy định cũ thì người phạm tội theo khoản 1 "bị phạt cải tạo không giam giữ từ sáu tháng đến hai năm hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm". Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 thì khi khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm vụ án, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án đều phải áp dụng các quy định cũ mà không được áp dụng các quy định mới.

7. VỀ ĐIỀU 97

Đối với những người buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, các chất ma tuý, văn hoá phẩm đồi trụy, từ nay chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới" theo Điều 97 mà không truy cứu thêm về tội phạm tương ứng theo quy định tại các điều 95, 96, 96a, 99 như đã hướng dẫn trước đây.

8. VỀ ÁN TREO

Theo quy định cũ tại khoản 1 Điều 44 thì đối với những người bị xử phạt tù không quá năm năm có thể xem xét để nếu có đủ các điều kiện do Luật định thì cho hưởng án treo, nay theo quy định mới thì chỉ đối với những người bị xử phạt tù không quá ba năm mới có thể xem xét để cho hưởng án treo. Như vậy, khoản 1 Điều 44 được sửa đổi theo hướng hạn chế việc cho hưởng án treo, cho nên từ nay trở đi, việc xem xét để cho hưởng án treo phải được tiến hành chặt chẽ và thận trọng hơn, cụ thể là chỉ đối với những người bị phạt tù không quá ba năm, có nhân thân không xấu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không nhất thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù mới đạt được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, thì mới cho hưởng án treo. Các Toà án cần tránh việc cho hưởng án treo không chính xác như: cho người không đủ điều kiện hưởng án treo được hưởng án treo hoặc đáng lẽ phải xử phạt trên ba năm tù thì lại chỉ phạt không quá 3 năm tù để cho hưởng án treo...

9. THÔNG TƯ NÀY CÓ HIỆU LỰC KỂ TỪ NGÀY BAN HÀNH.

 

Lịch sử hiệu lực

  1. 20/03/1993
    Ban hành
  2. 20/03/1993
    Bắt đầu có hiệu lực
  3. 14/12/1995
    Sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư liên tịch 05/TTLN
  4. 01/07/2000
    Hết hiệu lực

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng lĩnh vực: Hình sự - hành chính, xử lý vi phạm hành chính

13/2016/TT-BTPBộ Tư pháp

Quy định quy trình cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin và khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lựcBan hành: 30/12/2016Thông tư
08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPBộ Công an

Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999

Còn hiệu lựcBan hành: 14/11/2015Thông tư liên tịch
65/2015/NĐ-CPChính phủ

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật

Còn hiệu lựcBan hành: 7/8/2015Nghị định
33/2015/QĐ-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Kon Tum

Về việc bãi bỏ Quyết định số 09/2013/QĐ-UBND ngày 29 tháng 1 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ công để bán đấu giá trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Còn hiệu lựcBan hành: 30/7/2015Quyết định
17/2013/CT-UBNDUBND thành phố Hồ Chí Minh

Về việc triển khai thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Còn hiệu lựcBan hành: 31/10/2013Chỉ thị
19/2013/CT-UBNDỦy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Về việc triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Còn hiệu lựcBan hành: 4/9/2013Chỉ thị

Cùng cơ quan ban hành: Bộ Nội vụ

02/2026/TT-BNVBộ Nội vụ

Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành, liên tịch ban hành

Còn hiệu lựcBan hành: 15/1/2026Thông tư
01/2026/TT-BNVBộ Nội vụ

Hướng dẫn xếp lương đối với người được tuyển dụng vào công chức

Còn hiệu lựcBan hành: 9/1/2026Thông tư
27/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Quy định về việc lập, quản lý hồ sơ địa giới đơn vị hành chính

Còn hiệu lựcBan hành: 30/12/2025Thông tư
26/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Ban hành Danh mục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường

Còn hiệu lựcBan hành: 29/12/2025Thông tư
25/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 Thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về chế độ đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Còn hiệu lựcBan hành: 29/12/2025Thông tư
24/2025/TT-BNVBộ Nội vụ

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 09/2005/TT-BNV ngày 05 tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang

Còn hiệu lựcBan hành: 24/12/2025Thông tư
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.