|
QUYẾT ĐỊNH CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG Về chấn chỉnh quản lý tiền lương, tiền thưởng trong các cơ sở kinh tế quốc doanh
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG Để tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương, tiền thưởng của các cơ sở kinh tế quốc doanh nhằm vừa bảo đảm quyền tự chủ của xí nghiệp, vừa bảo đảm chức năng quản lý thống nhất Nhà nước về tiền lương trên nguyên tắc gắn thu nhập của người lao động với hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng suất lao động; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội,
QUYẾT ĐỊNH: Điều 1 Các cơ sở kinh tế quốc doanh phải thực hiện nghiêm túc chế độ tiền lương theo quy định hiện hành. Căn cứ vào thang lương, bảng lương và các chế độ phụ cấp, tính đơn giá tiền lương theo các định mức kinh tế kỹ thuật đã được xác định hợp lý. Đơn giá được điều chỉnh theo tình hình biến động của giá cả thị trường trong từng thời kỳ. Điều 2 Đơn giá tiền lương: 1- Đối với những sản phẩm hoặc dịch vụ do Nhà nước định giá, sản phẩm độc quyền như: điện, xi măng, xăng dầu, vận tải hàng không, đường sắt, bưud diện, phí ngân hàng, v.v... đơn giá tiền lương được tính bằng số tiền tuyệt đối cho đơn vị sản phẩm hoặc bằng tỷ lệ phần trăm (%) tiền lương trên tổng doanh thu tương ứng với giá sản phẩm định tại thời điểm đó. 2- Đối với sản phẩm hoặc dịch vụ chính tương đối ổn định, do cơ sở định giá thì đơn giá tiền lương được tính bằng phần trăm (%) trên giá bán của mối đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ. 3- Đối với những sản phẩm hoặc dịch vụ không ổn định, nhiều chủng loại, khó xác định đơn giá tiền lương, cho đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ, thì tuỳ theo đặc điểm sản xuất, kinh doanh của từng loại hình xí nghiệp để quy định mức tiền lương theo hiệu quả sản xuất, kinh doanh hoặc mức phần trăm (%) tiền lương trên tổng doanh thu của sản phẩm hoặc dịch vụ. 4- Đơn giá tiền lương là cơ sở tạo nguồn tiền mặt đăng ký với ngân hàng sở tại để bảo đảm tiền mặt cần thiết trả lương cho công nhân, viên chức theo kỳ hạn hàng tháng. Tiền lương thực hiện tuỳ thuộc vào kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Điều 3 Về tiền thưởng: - Nguồn tiền thưởng là lợi nhuận còn lại sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, trích lập quỹ phát triển sản xuất và quỹ phúc lợi. - Quỹ khen thưởng không được quá 50% tổng quỹ tiền lương thực hiện của đơn vị. Ngoài tiền thưởng theo các chế độ hiện hành của xí nghiệp, các đơn vị không được dùng bất cứ nguồn tài chính nào khác hoặc sản phẩm làm ra để trả thêm cho công nhân, viên chức dưới bất kỳ hình thức nào. Điều 4 Căn cứ vào chính sách, chế độ tiền lương của Nhà nước, Giám đốc xí nghiệp xây dựng quy chế tiền lương, tiền thưởng của đơn vị mình bảo đảm thu nhập của người lao động theo hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng suất lao động. Quy chế tiền lương, tiền thưởng phải được hội nghị công nhân, viên chức của xí nghiệp thảo luận và thông qua. Điều 5 Tiền lương, tiền thưởng của Giám đốc xí nghiệp do Hội đồng xí nghiệp (hoặc đại hội công nhân viên chức) quyết định trên cơ sở hiệu quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, nhưng tối đa không quá ba lần tiền lương, tiền thưởng bình quân của xí nghiệp. - Những trường hợp cá nhân có thu nhập quá cao so với điều kiện chung theo chế độ hiện hành, sẽ được điều tiết thông qua Pháp lệnh thuế của Nhà nước. Điều 6 Quyết định này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 1990. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và định kỳ báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thực hiện Quyết định này. Điều 7 Thủ trưởng các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện tốt Quyết định này.
|
Quyết định
Về chấn chỉnh quản lý tiền lương, tiền thưởng trong các cơ sở kinh tế quốc doanh
Số hiệu: 317-CT
- Cơ quan ban hành
- Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành
- 1/9/1990
- Ngày hiệu lực
- 1/9/1990
- Người ký
- Võ Văn Kiệt
- Chức danh người ký
- Chủ tịch hội đồng bộ trưởng
Hết hiệu lực toàn bộQuyết định
Văn bản này đã hết hiệu lực
Vui lòng tra cứu văn bản thay thế trước khi áp dụng.
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng cơ quan ban hành: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
355-CT•Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Công nhận thành phố Huế là đô thị loại II
Còn hiệu lựcBan hành: 24/9/1992Quyết định
334-CT•Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Về việc tăng cường quản lý, lập lại kỷ cương pháp luật trong khai thác tài nguyên khoáng sản
Còn hiệu lựcBan hành: 17/9/1992Chỉ thị
332-CT•Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Về việc tổ chức ngày Quốc tế Người có tuổi 1 tháng 10 hàng năm
Còn hiệu lựcBan hành: 17/9/1992Chỉ thị
328-CT•Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Về việc tổ chức mức sống dân cư
Còn hiệu lựcBan hành: 15/9/1992Chỉ thị
327-CT•Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước
Còn hiệu lựcBan hành: 15/9/1992Quyết định
324-CT•Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Về việc tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Còn hiệu lựcBan hành: 11/9/1992Quyết định
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.