Nghị quyết

Về việc sửa đổi Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội

Số hiệu: Không số

Cơ quan ban hành
Quốc hội
Ngày ban hành
28/12/1974
Ngày hiệu lực
12/1/1975
Người ký
Đang cập nhật
Chức danh người ký
Đang cập nhật
Ngưng hiệu lựcNghị quyết

Văn bản đang tạm ngưng hiệu lực

Hiệu lực thi hành của văn bản đang bị tạm ngưng.

NGHỊ QUYẾT

CỦA QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

KHOÁ IV, KỲ HỌP THỨ 5

SỬA ĐỔI LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

 

QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

KHOÁ IV, KỲ HỌP THỨ 5

Căn cứ vào điều 45 và điều 50 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;

Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,

QUYẾT NGHỊ:

Sửa đổi điều 11 và điều 12 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 31 tháng 12 năm 1959 như sau:

Điều 11 (mới):

Đại biểu Quốc hội do từng đơn vị bầu cử bầu ra.

Số đại biểu định cho mỗi đơn vị bầu cử là căn cứ vào số dân của dơn vị đó: cứ bảy vạn (70.000) dân được cử một đại biểu; nếu số lẻ còn lại quá ba vạn năm nghìn (35.000) thì được thêm một đại biểu.

ở những khu công nghiệp tập trung và ở những thành phố trực thuộc trung ương thì có thể từ hai vạn (20.000) đến năm vạn (50.000) dân được cử một đại biểu.

Điều 12 (mới):

Dựa vào dân số dân tộc thiểu số so với dân số toàn quốc, số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số bằng khoảng một phần sáu tổng số đại biểu Quốc hội.

Số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân phối, nhằm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số có số đại biểu tương xứng trong Quốc hội.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hoà khoá thứ IV, kỳ họp thứ 5 thông qua trong phiên họp ngày 28 tháng 12 năm 1974.

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.