Nghị định

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự

Số hiệu: 170/2026/NĐ-CP

Cơ quan ban hành
Chính phủ
Ngày ban hành
15/5/2026
Ngày hiệu lực
1/7/2026
Người ký
Lê Minh Hưng
Còn hiệu lựcNghị định

Người ký: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Email: [email protected]
Cơ quan: VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
Thời gian ký: 20.05.2026 14:19:52 +07:00

CHÍNH PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 170/2026/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2026

NGHỊ ĐỊNH
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Thi hành án hình sự

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;

Căn cứ Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15;

Căn cứ Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14;

Căn cứ Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự.

Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết Điều 27, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 41, khoản 2 và khoản 3 Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 50, Điều 52, Điều 53 và Điều 54 của Luật Thi hành án hình sự năm 2025; hướng dẫn thi hành các quy định của Luật về bảo đảm kinh phí cho việc quản lý và thực hiện các chế độ, chính sách đối với phạm nhân; chế độ đối với cán bộ tham gia giảng dạy, giáo dục phạm nhân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và gia đình trong giáo dục cải tạo phạm nhân.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam.

2. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự.

3. Cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan.

Điều 3. Kinh phí bảo đảm cho việc quản lý và thực hiện các chế độ, chính sách đối với phạm nhân

1. Kinh phí bảo đảm cho công tác quản lý phạm nhân và thực hiện các chế độ, chính sách đối với phạm nhân do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025, pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan; được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.

2. Cơ sở giam giữ phạm nhân được trích từ kết quả lao động của phạm nhân và tiếp nhận sự ủng hộ kinh phí hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong nước để hỗ trợ đầu tư cho cơ sở vật chất và thực hiện các chế độ đối với phạm nhân. Việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định của pháp luật khác có liên quan.

Chương II

CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN;
XẾP LOẠI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ XỬ LÝ PHẠM NHÂN VI PHẠM;
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VÀ
GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC CẢI TẠO PHẠM NHÂN

Mục 1
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN, PHẠM NHÂN NỮ CÓ THAI,
NUÔI CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI

Điều 4. Chế độ ăn đối với phạm nhân

1. Phạm nhân được Nhà nước bảo đảm, tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng gồm:

a) 17 kg gạo tẻ;

b) 15 kg rau xanh hoặc củ, quả;

c) 1,5 kg thịt lợn;

d) 1,5 kg cá;

d) 05 quả trứng gà hoặc trứng vịt;

e) 0,5 kg đường;

g) 0,75 lít nước mắm;

h) 0,3 lít dầu ăn;

i) 0,1 kg bột ngọt;

k) 0,5 kg muối;

l) Gia vị khác: tương đương 0,5 kg gạo tẻ;

m) Nhiên liệu: tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than hoặc 25 kWh điện hoặc 03 kg khí đốt (gas), phù hợp điều kiện thực tế của cơ sở giam giữ phạm nhân.

Căn cứ yêu cầu bảo đảm sức khỏe của phạm nhân trong quá trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp hành án và điều kiện thực tế, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có thể quyết định hoán đổi các loại thực phẩm, nguyên liệu, gia vị quy định tại khoản 1 Điều này bằng các loại thực phẩm khác có giá trị tương đương, bảo đảm phạm nhân được sử dụng hết tiêu chuẩn, định lượng theo quy định.

2. Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định tại khoản 1 Điều này, phạm nhân được sử dụng tiền của mình để mua đồ ăn thêm tại căng tin do cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức và phải thông qua hệ thống lưu ký của cơ sở giam giữ phạm nhân nhưng không quá 05 lần định lượng ăn trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân.

3. Mỗi phân trại của cơ sở giam giữ phạm nhân được tổ chức ít nhất một bếp ăn tập thể và một căng tin cho phạm nhân.

Bếp ăn tập thể phạm nhân được trang bị đầy đủ các dụng cụ, thiết bị thiết yếu phục vụ việc chế biến, bảo quản, chia khẩu phần ăn gồm: tủ đựng thức ăn có lưới hoặc kính che kín; chảo, nồi nấu ăn các loại; dao, thớt, chậu rửa, rổ, rá, bát, đũa và các dụng cụ cần thiết khác.

Căn cứ số lượng phạm nhân thực tế, điều kiện cơ sở vật chất và yêu cầu bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định việc trang bị, thay thế, bổ sung dụng cụ, thiết bị cấp dưỡng với số lượng, chủng loại và thời hạn sử dụng phù hợp, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác quản lý, giam giữ phạm nhân.

Phạm nhân đến cơ sở giam giữ phạm nhân được cấp 01 bộ dụng cụ cấp dưỡng. Dụng cụ cấp dưỡng dùng cho 01 phạm nhân ăn riêng theo suất gồm 01 cặp lồng hoặc khay bằng nhựa chuyên dùng đựng đồ ăn cơm dùng trong 02 năm và 01 thìa nhựa, 01 đôi đũa nhựa để ăn dùng trong 01 năm.

Chất tẩy rửa đối với các dụng cụ cấp dưỡng không quá 0,2% định mức ăn một ngày.

4. Lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời giá thị trường tại địa phương.

5. Phạm nhân được sử dụng điện, nước bảo đảm nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.

Điều 5. Chế độ mặc và tư trang của phạm nhân

1. Phạm nhân được cấp:

a) 02 bộ quần áo dài bằng vải thường theo mẫu thống nhất/năm;

b) 02 bộ quần áo lót/năm;

c) 02 khăn mặt/năm;

d) 02 chiếu cá nhân/năm;

d) 02 đôi dép/năm;

e) 01 mũ (đối với phạm nhân nam) hoặc 01 nón (đối với phạm nhân nữ)/năm;

g) 01 áo mưa nilông/năm;

h) 04 bàn chải đánh răng/năm;

i) 600 g kem đánh răng/năm;

k) 3,6 kg xà phòng/năm;

l) 1.000 ml dầu gội đầu/năm;

m) 01 màn/03 năm;

n) 01 chăn/04 năm (từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc và khu vực Tây Nguyên cấp chăn bông có vỏ nặng không quá 02 kg, các tỉnh, thành phố còn lại cấp chăn sợi);

o) 01 áo ấm/03 năm (cấp từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc và khu vực Tây Nguyên, các tỉnh, thành phố còn lại không cấp);

p) Phạm nhân nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ sinh cá nhân tương đương 02 kg gạo tẻ/người/tháng.

2. Phạm nhân tham gia lao động, học nghề mỗi năm được phát 02 bộ quần áo bảo hộ lao động và dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết khác.

3. Mẫu, màu và yêu cầu chất lượng quần áo, chăn, màn, dụng cụ bảo hộ lao động và các đồ dùng cấp cho phạm nhân do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định.

Điều 6. Chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân

1. Phạm nhân khi đến cơ sở giam giữ phạm nhân được y tế của cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức khám, lập phiếu khám sức khỏe. Trong thời gian phạm nhân chấp hành án phạt tù, cơ sở giam giữ phạm nhân căn cứ vào điều kiện, thời gian chấp hành án phạt tù của phạm nhân và tình hình cụ thể phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên nơi cơ sở giam giữ phạm nhân đóng quân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân để tổ chức khám sức khỏe cho phạm nhân định kỳ ít nhất 01 năm/lần, cụ thể: Đo chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, kiểm tra các thông số về nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ cơ thể, khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa, căn lâm sàng theo chỉ định của bác sĩ và lưu kết quả vào hồ sơ phạm nhân để quản lý, theo dõi sức khỏe của phạm nhân. Chi phí khám sức khỏe định kỳ cho phạm nhân được thanh toán theo quy định của Bộ Y tế. Cơ sở giam giữ phạm nhân thường xuyên có biện pháp phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống thiên tai, tai nạn thương tích.

2. Phạm nhân bị bệnh, bị thương tích được khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại bệnh xá của cơ sở giam giữ phạm nhân. Trường hợp phạm nhân bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định trích xuất đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác của Nhà nước trên địa bàn đơn vị đóng quân phù hợp với tình trạng bệnh để điều trị và thông báo cho người thân thích hoặc đại diện hợp pháp của phạm nhân đã biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Trường hợp vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì căn cứ chỉ định của Thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định việc điều trị tiếp theo, bảo đảm kịp thời và đáp ứng yêu cầu quản lý giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân; đồng thời phải báo cáo cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp.

Đối với phạm nhân là người nước ngoài, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm thông báo cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao để thông tin cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch.

3. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên của Nhà nước, nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân đóng quân trên địa bàn hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân bố trí quỹ đất trong khuôn viên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để xây dựng khu điều trị riêng cho phạm nhân. Trường hợp không còn quỹ đất thì bố trí tối thiểu từ 03 buồng bệnh riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho phạm nhân và phải bảo đảm về an ninh, trật tự, thuận lợi cho công tác quản lý phạm nhân. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước có trách nhiệm phân công bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên đến khám, điều trị, chăm sóc cho phạm nhân theo yêu cầu chuyên môn. Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Quân đội nhân dân theo tuyến nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân, các buồng bệnh

riêng sử dụng khi có phạm nhân điều trị; khi không có phạm nhân điều trị, bệnh viện có thể sử dụng để điều trị cho bệnh nhân khác. Trường hợp quy hoạch xây dựng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mới, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên của Nhà nước, nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân đóng quân trên địa bàn hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân phải thông báo cho cơ sở giam giữ phạm nhân biết để phối hợp khảo sát, bố trí quỹ đất và thiết kế xây dựng khu điều trị cho phạm nhân.

4. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế phục vụ cho phạm nhân được cấp tương đương không quá 05 kg gạo tẻ/phạm nhân/tháng.

5. Đối với phạm nhân có biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì trại giam, trại tạm giam phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên của Nhà nước, nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân đóng quân trên địa bàn hoặc cơ sở khám bệnh chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tổ chức khám và điều trị theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác định phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì trại giam, trại tạm giam đề nghị Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án phạt tù ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo quy định tại khoản 3 Điều 52 Luật Thi hành án hình sự.

6. Đối với phạm nhân có tiền sử nghiện ma túy và các chất kích thích, căn cứ điều kiện, khả năng trại giam tổ chức khám bệnh, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng; trường hợp phạm nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy thì trại giam phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan tổ chức cai nghiện cho phạm nhân theo quy định.

7. Phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS, lao, các bệnh truyền nhiễm và bệnh mạn tính khác được chăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật hiện hành.

8. Phạm nhân được nhận các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ, y sĩ tại cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi phạm nhân đã được khám và điều trị bệnh khi gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác hoặc qua đường bưu chính. Việc nhận thuốc phải được cán bộ y tế kiểm tra, đánh giá sự phù hợp với tình trạng bệnh lý, phác đồ điều trị, đề xuất và được sự đồng ý của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam; chỉ được tiếp nhận khi bảo đảm điều kiện đối với thuốc theo quy định tại khoản 9 Điều này.

9. Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho phạm nhân theo quy định tại khoản 8 Điều này phải bảo đảm có đầy đủ thông tin trên nhãn thuốc bao gồm: tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, dạng bào chế, chỉ định, chống chỉ định, chỉ dẫn liều lượng, cách dùng, sử dụng thuốc trên các đối tượng đặc biệt, tác dụng không mong muốn, cần thận trọng, cảnh báo và an toàn thuốc và các thông tin cần thiết khác, nơi sản xuất, số lô và

còn thời hạn sử dụng.

7

Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho phạm nhân được nhận phải có sổ theo dõi và tủ dùng riêng. Cán bộ y tế của cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm kiểm tra, quản lý. Khi phạm nhân bị bệnh có nhu cầu sử dụng thuốc, cán bộ y tế căn cứ vào bệnh lý, phác đồ điều trị để cấp thuốc, hướng dẫn và giám sát phạm nhân sử dụng. Thuốc của phạm nhân nào thì phạm nhân đó sử dụng, phải ghi rõ trong bệnh án và sổ theo dõi: “Thuốc do người thân thích gửi”. Phạm nhân nhận, sử dụng thuốc phải ký tên hoặc điểm chỉ (nếu không biết chữ) vào bệnh án hoặc sổ theo dõi. Thuốc hết hạn sử dụng phải lập biên bản tiêu hủy, có sự chứng kiến, ký (hoặc điểm chỉ) xác nhận của phạm nhân.

Khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù hoặc phải chuyển đi nơi khác, cán bộ y tế phải kiểm tra, đối chiếu, trả lại cho phạm nhân số thuốc chưa sử dụng hết hoặc bàn giao thuốc kèm theo hồ sơ sức khỏe của phạm nhân cho đơn vị tiếp nhận.

Điều 7. Chế độ hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân

1. Phạm nhân được tham gia hoạt động thể dục, thể thao hằng ngày theo thời gian do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quy định, phù hợp với điều kiện của cơ sở giam giữ phạm nhân và tình trạng sức khỏe.

Việc tổ chức hoạt động thể dục, thể thao phải bảo đảm an ninh, an toàn, phù hợp với giới tính, độ tuổi của phạm nhân và không làm ảnh hưởng đến chế độ học tập, lao động, sinh hoạt chung và yêu cầu quản lý, giam giữ.

Cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm bố trí địa điểm, trang bị dụng cụ cần thiết và tổ chức quản lý, giám sát theo quy định.

2. Mỗi buồng giam chung phạm nhân được phát 02 tờ Báo Nhân dân theo kỳ phát hành. Mỗi phân trại được trang bị một hệ thống truyền thanh nội bộ, hệ thống âm thanh phục vụ văn hóa, văn nghệ, mỗi buồng giam chung được trang bị 01 tivi phù hợp với buồng giam.

3. Ngoài thời gian tham gia các hoạt động giáo dục, học tập, lao động, sinh hoạt chung, phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách in được xuất bản, phát hành hợp pháp mỗi tuần một lần. Phạm nhân theo tôn giáo đăng ký với cán bộ giáo dục việc sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo cá nhân tại địa điểm, thời gian do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quy định và không làm ảnh hưởng đến người khác. Cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm quản lý, kiểm tra kinh sách trước khi cho phạm nhân sử dụng.

Điều 8. Trình tự, thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người

1. Phạm nhân thuộc trường hợp tại điểm d khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người được cơ sở giam giữ phạm nhân hướng dẫn viết đơn tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người.

8

Đơn phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, tội danh, mức án, thời gian chấp hành án còn lại của phạm nhân; nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người; thông tin và mối quan hệ đối với người dự kiến được nhận mô, bộ phận cơ thể người; mô hoặc bộ phận cơ thể người có nguyện vọng hiến và cam kết các nội dung theo quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự. Đơn của phạm nhân gửi Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải kèm theo:

a) Đơn đề nghị được nhận mô hoặc bộ phận cơ thể người của người thân thích;

b) Giấy tờ hợp pháp chứng minh mối quan hệ giữa phạm nhân và người dự kiến được nhận mô, bộ phận cơ thể người là người thân thích theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự (bản chính);

c) Văn bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình trạng bệnh của người thân thích có nhu cầu ghép mô, bộ phận cơ thể người (bản chính).

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn của phạm nhân và tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam kiểm tra đối chiếu điều kiện quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự để xem xét, giải quyết.

Trường hợp đủ điều kiện thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thông báo bằng văn bản cho phạm nhân và người thân thích của phạm nhân, đồng thời phối hợp với cơ sở y tế có đủ điều kiện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người để tổ chức tư vấn sức khỏe, tư vấn tâm lý, khám sức khỏe, kiểm tra các điều kiện y tế để xác nhận về điều kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự của phạm nhân. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc khám sức khỏe, tư vấn và kiểm tra các điều kiện y tế, cơ sở y tế có trách nhiệm gửi văn bản xác nhận phạm nhân đủ hoặc không đủ điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự cho cơ sở giam giữ phạm nhân để làm căn cứ thực hiện các bước tiếp theo.

Trường hợp hồ sơ hoặc điều kiện không bảo đảm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam trả lời bằng văn bản cho phạm nhân và người thân thích của phạm nhân và phải nêu rõ lý do.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản của cơ sở y tế quy định tại khoản 2 Điều này xác nhận phạm nhân đủ điều kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự, cơ sở giam giữ phạm nhân hoàn thiện hồ sơ báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định. Hồ sơ gồm:

9

a) Báo cáo đề nghị cho phạm nhân được thực hiện hiến mô, bộ phận cơ thể của cơ sở giam giữ phạm nhân;

b) Đơn tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người của phạm nhân và các tài liệu quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này;

c) Văn bản xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền về việc phạm nhân đủ điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự;

d) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xem xét, quyết định và trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hoặc không đồng ý cho phạm nhân hiến mô, bộ phận cơ thể người; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đồng ý của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp với cơ sở y tế có đủ điều kiện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người tổ chức thực hiện, hiện các trình tự, thủ tục, chế độ, chính sách đối với phạm nhân hiến mô, bộ phận cơ thể người theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.

Trước khi trích xuất phạm nhân ra khỏi cơ sở giam giữ phạm nhân để thực hiện hiến mô, bộ phận cơ thể người, cơ sở giam giữ phạm nhân phải xây dựng kế hoạch, phương án bảo đảm an ninh, an toàn; phân công lực lượng giám sát, quản lý chặt chẽ phạm nhân trong suốt quá trình di chuyển, khám, phẫu thuật, điều trị và hồi phục; phòng ngừa phạm nhân vi phạm pháp luật.

Cơ sở y tế thực hiện việc lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người có trách nhiệm bảo đảm an toàn chuyên môn; xác nhận tình trạng sức khoẻ của phạm nhân sau khi thực hiện hiến mô, bộ phận cơ thể người và thông báo bằng văn bản cho cơ sở giam giữ phạm nhân về việc phạm nhân đủ điều kiện sức khỏe để tiếp tục chấp hành án.

6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được thông báo của cơ sở y tế quy định tại khoản 5 Điều này, cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức đưa phạm nhân về tiếp tục chấp hành án.

7. Trong thời gian trước và sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể người, căn cứ kết luận chuyên môn và chỉ định bằng văn bản của cơ sở y tế có thẩm quyền về tình trạng sức khỏe của phạm nhân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định bằng văn bản việc tạm dừng hoặc điều chỉnh chế độ lao động, học văn hóa, học nghề đối với phạm nhân. Việc điều chỉnh bao gồm giảm thời gian lao động, chuyển sang công việc nhẹ hơn, tạm dừng tham gia lao động, học tập

trong thời gian điều trị, hồi phục hoặc áp dụng chế độ sinh hoạt phù hợp với tình trạng sức khỏe thực tế.

Phạm nhân tự chịu các chi phí liên quan đến việc hiến mô, bộ phận cơ thể người và chi phí chăm sóc sức khỏe của bản thân sau khi hiến, bao gồm chi phí khám, điều trị, thuốc và các chi phí phát sinh khác theo quy định của pháp luật. Cơ sở giam giữ phạm nhân tạo điều kiện để phạm nhân được theo dõi sức khỏe theo chỉ định của bác sĩ.

8. Trong quá trình giải quyết việc phạm nhân hiến mô, bộ phận cơ thể người, cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và gửi kèm bản sao hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giam giữ phạm nhân đóng quân để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi:

a) Tiếp nhận đơn tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người của phạm nhân;

b) Có văn bản của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng về việc đồng ý hoặc không đồng ý cho phạm nhân hiến mô, bộ phận cơ thể người;

c) Tổ chức thực hiện việc trích xuất phạm nhân ra khỏi cơ sở giam giữ phạm nhân để lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.

Điều 9. Chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi và chế độ đối với trẻ em ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân

1. Phạm nhân nữ trong thời gian mang thai, nghỉ sinh con hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong cơ sở giam giữ phạm nhân thì tổng định lượng là bằng 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường so với định lượng quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định này và được hoán đổi theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ; phạm nhân nữ sinh con trong trại giam được cấp các đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh trong dương 01 tháng định lượng ăn của trẻ em là con phạm nhân theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp phạm nhân nữ có thai không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí chỉ nam 03 m2/phạm nhân; được khám thai định kỳ ít nhất 01 lần/tháng, trường họp thai kỳ có nguy cơ cao hoặc theo chỉ định của bác sĩ thì được tăng số lần khám phù hợp; được bố trí làm công việc nhẹ, không độc hại, không tiếp xúc hóa chất, không làm việc trong môi trường nhiệt độ cao và giảm thời gian lao động hàng ngày ít nhất 01 giờ so với chế độ lao động chung.

2. Chế độ ăn của trẻ em dưới 36 tháng tuổi là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân được hưởng như trẻ em dưới 04 tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật hiện hành; ngày Tết theo quy định của pháp luật trẻ em được hưởng chế độ như 08 tháng 05 là ngày thường, ngày Quốc tế Thiếu nhi (ngày 01 tháng 6 dương lịch), Tết Trung thu

(ngày 15 tháng 8 âm lịch) được hưởng chế độ ăn bằng 02 lần ngày thường. Ngoài chế độ ăn hằng ngày nêu trên, mỗi tháng trẻ em được hỗ trợ bổ sung sữa và đồ dùng sinh hoạt cần thiết trị giá tương đương 50 kg gạo tẻ/trẻ em. Căn cứ vào lứa tuổi của trẻ và điều kiện thực tế, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam hoán đổi định lượng chế độ ăn cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc quy đổi thành tiền và gửi lưu ký để mẹ trẻ em sử dụng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân được cấp:

a) 04 khăn mặt/năm;

b) 02 kg xà phòng/năm;

c) 04 bộ quần áo bằng vải thường/năm;

d) 01 màn phù hợp với lứa tuổi/03 năm;

đ) 02 đôi dép/năm;

e) 01 chăn phù hợp với lứa tuổi và khí hậu vùng miền/03 năm;

g) 02 bộ quần áo ấm/01 năm phù hợp với lứa tuổi và khí hậu vùng miền.

4. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân được cấp thẻ bảo hiểm y tế, chăm sóc y tế, khám chữa bệnh theo quy định của Luật Trẻ em và Luật Bảo hiểm y tế. Trường hợp bị bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá, cơ sở giam giữ phạm nhân làm thủ tục chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước để điều trị, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định việc trích xuất và áp giải phạm nhân là mẹ của trẻ đi cùng để chăm sóc. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế tại cơ sở giam giữ phạm nhân được cấp không quá 05 kg gạo tẻ/trẻ em/tháng.

Cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm thanh toán phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ vượt quá định mức chi tiêu của bảo hiểm y tế theo quy định; kinh phí khám bệnh, chữa bệnh do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân chết thì kinh phí mai táng được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.

5. Chế độ ăn, mặc, cấp phát nhu yếu phẩm, chăm sóc y tế đối với trẻ em trên 36 tháng tuổi là con của phạm nhân ở cùng mẹ tại cơ sở giam giữ phạm nhân trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội hoặc chờ gửi về người thân thích nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.

6. Trại giam tổ chức khu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em (nhà trẻ) ngoài khu giam giữ phạm nhân; bảo đảm tách biệt với khu giam giữ, có không gian sinh hoạt, vui chơi, phù hợp với lứa tuổi và bảo đảm yêu cầu về an ninh, an toàn.

Nhà trẻ do cán bộ có chuyên môn về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em hoặc người lao động được ký hợp đồng theo quy định của pháp luật phụ trách; trường hợp phù hợp, có thể bố trí phạm nhân nữ có chuyên môn, nghiệp vụ về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tham gia hỗ trợ chăm sóc dưới sự quản lý, giám sát của cán bộ trại giam. Trường hợp cần thiết, trại giam phối hợp với cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn để hỗ trợ chuyên môn trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.

Trẻ em dưới 36 tháng tuổi được sinh hoạt tại nhà trẻ vào ban ngày; trẻ em từ đủ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội hoặc bàn giao cho người thân thích tiếp tục được bố trí sinh hoạt tại nhà trẻ; không bố trí sinh hoạt thường xuyên trong buồng giam.

Điều 10. Kinh phí mai táng trong trường hợp phạm nhân chết, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết

1. Kinh phí bảo quản thi thể phạm nhân hoặc con của phạm nhân ở cùng mẹ trong thời gian chờ các cơ quan chức năng phối hợp giải quyết hoặc cho người thân thích của phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ đến nhận tử thi theo quy định tại Điều 54 Luật Thi hành án hình sự được tính theo đơn giá của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

2. Kinh phí mai táng trong trường hợp phạm nhân chết hoặc con của phạm nhân ở cùng mẹ chết được xác định theo thực tế tại từng địa phương, bao gồm các khoản chi: tiền mua 01 quan tài bằng gỗ thường; 01 bộ quần áo dài và 01 bộ quần áo lót mới; 04 m2 vải liệm; hương, nến, cồn, chi phí làm vệ sinh và các chi phí khác phục vụ việc mai táng phù hợp với phong tục địa phương.

Điều 11. Tiền tàu, xe và tiền ăn cho phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù trở về nơi cư trú hoặc nơi làm việc

1. Phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù được ngân sách nhà nước bảo đảm tiền tàu, xe để trở về nơi cư trú hoặc nơi làm việc. Mức chi tiền tàu, xe được tính theo giá vé phương tiện giao thông công cộng thực tế từ cơ sở giam giữ phạm nhân đến nơi cư trú hoặc nơi làm việc của phạm nhân tại thời điểm phạm nhân chấp hành xong án phạt tù.

2. Trong thời gian đi đường trở về nơi cư trú hoặc nơi làm việc, phạm nhân được cấp tiền ăn. Mức chi tiền ăn một ngày đi đường bằng 02 lần mức tiền ăn bình quân một ngày của phạm nhân theo tiêu chuẩn định lượng do ngân sách nhà nước bảo đảm tại thời điểm phạm nhân chấp hành xong án phạt tù.

3. Kinh phí chi trả tiền tàu, xe và tiền ăn trong thời gian đi đường được bố trí trong dự toán chi ngân sách hằng năm và thực hiện cấp phát cho phạm nhân vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù.

Mục 2
CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP, HỌC NGHỀ CỦA PHẠM NHÂN

Điều 12. Chương trình, nội dung học tập của phạm nhân

1. Các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức cho phạm nhân học tập theo các giai đoạn sau:

a) Giai đoạn phạm nhân mới được đưa đến cơ sở giam giữ phạm nhân

Sau khi được đưa đến cơ sở giam giữ phạm nhân để chấp hành án phạt tù, phạm nhân được tham gia học tập, phổ biến các nội dung sau: Quyền và nghĩa vụ của phạm nhân; nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân; quy định về đồ vật được đưa vào sử dụng và đồ vật cấm đưa vào cơ sở giam giữ phạm nhân; quy định nếp sống văn hóa, giao tiếp, ứng xử của phạm nhân; quy định về xếp loại chấp hành án phạt tù; các chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế; chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân; chế độ sinh hoạt, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách báo, vui chơi giải trí và sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; chế độ gặp, nhận quà, liên lạc với người thân thích; quy định về khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm; một số nội dung về giá trị đạo đức, kỹ năng sống.

Thời gian học tập, phổ biến từ 04 đến 06 ngày kể từ ngày bắt đầu lớp học. Kết thúc lớp học, phạm nhân phải viết bản thu hoạch kết quả học tập; trường hợp phạm nhân là người già yếu, người khuyết tật không tự viết được hoặc không biết chữ thì nhờ phạm nhân khác viết hộ, sau đó đọc lại cho phạm nhân nhờ viết hộ nghe, ký tên hoặc điểm chỉ vào bản thu hoạch. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì sau khi kết thúc biện pháp phòng, chống hoặc khắc phục hậu quả các tình huống trên phải tổ chức cho phạm nhân học tập.

Việc học tập được tổ chức thành lớp học, mỗi lớp học có từ 05 phạm nhân trở lên. Trường hợp đang tổ chức lớp học mà có phạm nhân mới được đưa đến thì có thể bổ sung vào lớp học và bố trí cho học tăng cường, bổ trợ kiến thức, tự đọc tài liệu để theo kịp tiến độ, lịch học của lớp hoặc tổ chức cho tổng kết lớp học sau. Trường hợp có dưới 05 phạm nhân hoặc có nhiều phạm nhân bị bệnh hoặc do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tùy tình hình thực tế, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định tổ chức lớp học hoặc phổ biến, hướng dẫn phạm nhân đọc tài liệu và viết thu hoạch kết quả học tập. Sau khi học xong nội dung, chương trình giáo dục đầu vào, phạm nhân được biên chế về các tổ, đội phạm nhân. Trường hợp xét thấy cần thiết, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định biên chế về tổ, đội phạm nhân rồi mới tổ chức phổ biến, giáo dục cho phạm nhân.

14

b) Giai đoạn phạm nhân đang chấp hành án

Trong thời gian chấp hành án, phạm nhân được phổ biến, học tập: Các nội dung cơ bản của Hiến pháp; quy định về chính sách hình sự của Việt Nam; các quy định về tạm đình chỉ, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tu trước thời hạn có điều kiện, miễn chấp hành án phạt tù; một số quy định của Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đặc xá, Luật Phòng, chống ma tuý, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Phòng cháy và chữa cháy; một số nội dung về giá trị đạo đức, kỹ năng sống.

Căn cứ điều kiện thực tế của đơn vị, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam bố trí thời gian, số lượng lớp học tổ chức học tập cho phù hợp. Mỗi lớp học phải hoàn thành trong thời gian không quá 06 tháng từ khi bắt đầu mở lớp học.

Trường hợp có dưới 05 phạm nhân hoặc có nhiều phạm nhân bị bệnh hoặc do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tuỳ tình hình thực tế, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định tổ chức lớp học hoặc phổ biến, hướng dẫn phạm nhân đọc tài liệu và viết thu hoạch kết quả học tập.

Đối với phạm nhân có thời gian chấp hành án còn lại dưới 6 tháng, phạm nhân bị giam tại nhà giam riêng thì Giám thị trại giam, Giám thị trại giam tạm giam bố trí lịch phổ biến, học tập cho phù hợp, kết hợp cho phạm nhân tự đọc tài liệu, viết thu hoạch kết quả học tập. Nếu số lượng phạm nhân ít, không đủ để mở lớp thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải bố trí lịch học tập, phổ biến, cho phạm nhân tự đọc tài liệu và viết thu hoạch kết quả học tập vào tháng cuối của quý theo kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù.

c) Giai đoạn phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù

Phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù (bao gồm cả phạm nhân đã được Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn đặc xá thẩm định có đủ điều kiện được đề nghị đặc xá; phạm nhân được lập hồ sơ đề nghị Toà án xét tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc phạm nhân đã được lập hồ sơ đề nghị Toà án giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại) được phổ biến, học tập các nội dung sau: Các chính sách, quy định của pháp luật về tái hoà nhập cộng đồng; một số nội dung cơ bản của Luật Cư trú, Luật Căn cước, Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật An ninh mạng, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Hôn nhân gia đình; các quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm, xoá án tích; các quy định về bảo vệ an ninh, trật tự, phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; một số nội dung, giá trị đạo đức, kỹ năng sống.

15

Ngoài các nội dung nêu trên, đối với phạm nhân đã được lập hồ sơ đề nghị Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức phổ biến, học tập các quy định về quyền và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; đối với phạm nhân đã được Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn đặc xá thẩm định có đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thì cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức phổ biến, học tập các quy định về quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá.

Thời gian phổ biến, học tập từ 05 đến 07 ngày kể từ ngày bắt đầu lớp học, tổ chức trong khoảng thời gian phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù hoặc trước khi thi hành quyết định đặc xá, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và quyết định giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại. Mỗi lớp học không quá 100 phạm nhân.

2. Các cơ sở giam giữ phạm nhân phải xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức học tập, phổ biến pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân, mỗi buổi học 04 giờ. Những nơi vì điều kiện khách quan không tổ chức được lớp học thì phải tổ chức phổ biến, hướng dẫn phạm nhân tự nghiên cứu, đọc sách, tài liệu và tổ chức viết thu hoạch để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Phạm nhân nữ giam giữ ở phân trại riêng thì tổ chức học tập riêng; trường hợp giam giữ trong cùng phân trại với phạm nhân nam thì tùy điều kiện, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định học chung hoặc học riêng nhưng phải bảo đảm không để vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân. Đối với phạm nhân có nhiều tiền án, tiền sự hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm nhân khác mà xét thấy cần thiết phải tổ chức gặp gỡ, giáo dục cá biệt thì cơ sở giam giữ phạm nhân có kế hoạch để đề ra các biện pháp, hình thức tác động giáo dục phù hợp; đối với các phạm nhân chưa thực hiện xong trách nhiệm dân sự cần giáo dục, phổ biến học tự nguyện, tích cực khắc phục ngay để đủ điều kiện, tiêu chuẩn được hưởng chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước.

3. Phạm nhân là người nước ngoài được phổ biến pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ trong thời gian chấp hành án; các điều ước quốc tế liên quan đến quyền, nghĩa vụ của phạm nhân mà Việt Nam và nước họ mang quốc tịch là thành viên, các hiệp định song phương giữa Việt Nam với nước mà họ mang quốc tịch có liên quan đến thi hành án hình sự. Tùy theo mức độ hiểu biết tiếng Việt, phạm nhân là người nước ngoài có thể được giáo dục, phổ biến bằng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc phát tài liệu đã dịch để nghiên cứu, học tập; khuyến khích phạm nhân là người nước ngoài tự học tiếng Việt để có thể tự nghiên cứu, học tập chương trình, nội dung phổ biến pháp luật, giáo dục công dân như các phạm nhân khác. Nội dung, tài liệu học tập, giáo dục công dân, phổ biến pháp luật có thể được dịch thành tiếng Anh hoặc ngôn ngữ của nước mà phạm nhân mang quốc tịch.

16

4. Việc dạy văn hóa, phổ biến pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân bị khiếm thính, khiếm thị, bị câm, phạm nhân nữ có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ, bị bệnh thường xuyên hoặc có nhược điểm về thể chất, tinh thần do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định đối với từng trường hợp.

5. Các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến thông tin cho phạm nhân về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước những thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các sự kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm của đất nước và của địa phương. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, phát động các phong trào thi đua chấp hành án phạt tù trong phạm nhân để phục vụ yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng.

6. Chương trình học tập của phạm nhân được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

7. Tài liệu học tập của phạm nhân do Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng biên soạn. Trường hợp quy định của pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hướng dẫn các trại giam, trại tạm giam bổ sung, chỉnh lý.

Điều 13. Chế độ dạy văn hóa cho phạm nhân

1. Các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức dạy chương trình xóa mù chữ cho phạm nhân chưa biết chữ hoặc tái mù chữ. Khuyến khích phạm nhân tự học văn hóa, phạm nhân là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số chưa biết tiếng Việt tự nghiên cứu, học tập tiếng Việt. Phạm nhân đang học văn hóa mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù thì được bảo lưu kết quả học tập để có thể tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Tùy theo chương trình mà sử dụng sách giáo khoa, tài liệu dạy và học phù hợp theo quy định, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thời gian học văn hóa của phạm nhân tối thiểu 02 buổi/tuần, mỗi buổi 04 giờ do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định, trừ các ngày Chủ nhật, lễ, Tết. Cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức các lớp học văn hóa cho phạm nhân và dạy nội tiếng Việt cho phạm nhân không nói được tiếng Việt (tiếng phổ thông); Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam căn cứ vào tình hình thực tế và khả năng nhận thức của phạm nhân quyết định hình thức, thời gian, phương pháp dạy cho phù hợp.

3. Giáo viên dạy văn hóa cho phạm nhân là cán bộ, chiến sĩ, lao động hợp đồng của các cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc của các cơ sở giáo dục địa phương, cơ trình độ từ đại học trở lên và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Những phạm nhân đã cải tạo tiến bộ, có trình độ học vấn, khả năng sư phạm, nhân thân tốt, không phải là đối tượng chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu, lưu manh

chuyên nghiệp, côn đồ, hung hãn, mắc bệnh truyền nhiễm, có tiền sử nghiện ma tuý hoặc không phải là phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia thì có thể bố trí hỗ trợ cán bộ, chiến sĩ dạy văn hóa cho phạm nhân. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xác nhận hoàn thành kỳ học (nếu phạm nhân chưa hoàn thành Chương trình xoá mù chữ), hoàn thành Chương trình xoá mù chữ giai đoạn 1, giai đoạn 2 theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phạm nhân.

4. Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Văn hoá - xã hội nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân chỉ đạo các cơ sở giáo dục cử giáo viên đến dạy văn hóa cho phạm nhân; quản lý, chỉ đạo thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phạm nhân; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho cán bộ, chiến sĩ, lao động hợp đồng dạy văn hóa cho phạm nhân. Cơ sở giam giữ phạm nhân bố trí hội trường hoặc phòng học bảo đảm điều kiện dạy và học cho phạm nhân.

Điều 14. Chế độ đối với cán bộ tham gia giảng dạy

1. Giáo viên, cán bộ, chiến sĩ, lao động hợp đồng dạy văn hóa, giáo dục công dân, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phạm nhân được bồi dưỡng trong môi trường đặc biệt. Mức chi bồi dưỡng một buổi (04 giờ) bằng 0,25 mức lương cơ sở.

2. Cán bộ quản lý, trực tiếp làm công tác giáo dục, dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân của các cơ sở giam giữ phạm nhân có thành tích tốt được xem xét biểu dương, khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Điều 15. Chế độ học nghề của phạm nhân

1. Căn cứ vào khả năng, trình độ văn hóa, sức khỏe, giới tính của phạm nhân, thị trường lao động và điều kiện cụ thể, trại giam, trại tạm giam hợp tác với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo thường xuyên hoặc tổ chức bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho phạm nhân theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp; trại giam, trại tạm giam hợp tác với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật để tổ chức dạy nghề, nâng cao tay nghề, truyền nghề cho phạm nhân.

2. Phạm nhân từ 30 tuổi trở xuống chưa có nghề nghiệp, phạm nhân có mức án dưới 05 năm và chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù được ưu tiên bố trí học nghề, nâng cao tay nghề. Phạm nhân được học và cấp chứng chỉ đào tạo nghề theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.

3. Kế hoạch dạy nghề, chương trình dạy nghề cho phạm nhân.

a) Căn cứ vào chỉ tiêu nguồn vốn, kế hoạch năm, cơ sở giam giữ phạm nhân xây dựng kế hoạch dạy nghề cho phạm nhân. Căn cứ vào kế hoạch dạy nghề, cơ

18

sổ giam giữ phạm nhân lập dự toán dạy nghề gửi về cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp để phê duyệt. Nội dung, dự toán dạy nghề bao gồm căn cứ pháp lý, ngành nghề đào tạo, số lớp, số lượng học viên là phạm nhân học nghề, địa điểm tổ chức, hình thức đào tạo, trình độ đào tạo và dự kiến thời gian đào tạo, dự toán kinh phí dạy nghề, nguồn vốn;

b) Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp cho phạm nhân: Chương trình đào tạo tối thiểu là 300 giờ với 03 đơn vị học tập bao gồm kiến thức nghề, kỹ năng thực hành, thái độ với nghề được học, thời gian thực hiện từ 03 tháng đến dưới 01 năm. Nội dung, cấu trúc của chương trình đào tạo trình độ sơ cấp phải bảo đảm tính khoa học, hệ thống, thực tiễn, sử dụng từ ngữ nhất quán, dễ hiểu và tương đương mục tiêu đào tạo trình độ sơ cấp theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp, phù hợp với khung trình độ, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia;

c) Chương trình đào tạo nghề thường xuyên cho phạm nhân: bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề; bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp; kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; chuyển giao công nghệ và chương trình đào tạo khác, có thời gian đào tạo dưới 03 tháng. Chương trình đào tạo thường xuyên bảo đảm giúp người học có năng lực thực hiện được các công việc của nghề, tăng năng suất lao động, phạm nhân học xong tự thực hiện được công việc đơn giản, một hoặc một số phần công việc của một nghề, có hiểu biết về an toàn, vệ sinh lao động;

d) Chương trình, nội dung đào tạo nghề được Hội đồng thẩm định chương trình đào tạo thẩm định và người đứng đầu cơ sở đào tạo phê duyệt và ban hành đối với các nghề hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để đào tạo.

4. Cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp trại giam, trại tạm giam căn cứ điều kiện thực tế và thị trường lao động quy định các ngành, nghề đào tạo cho phạm nhân.

Mục 3

TỔ CHỨC CHO PHẠM NHÂN LAO ĐỘNG
VÀ SỬ DỤNG KẾT QUẢ LAO ĐỘNG CỦA PHẠM NHÂN

Điều 16. Lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân

1. Hằng năm, căn cứ tình hình, điều kiện thực tế của trại giam, trại tạm giam và yêu cầu công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm lập kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân gửi về Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng trước ngày 15 tháng 10 hằng năm để thẩm định, phê duyệt.

19

2. Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch tổ chức lao động hàng năm của các trại giam, trại tạm giam trong Công an nhân dân. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch tổ chức lao động hàng năm của các trại giam, trại tạm giam trong Quân đội nhân dân. Kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân phải bảo đảm các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Thi hành án hình sự.

3. Sau khi kế hoạch tổ chức lao động được phê duyệt, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam căn cứ điều kiện cụ thể của trại giam, trại tạm giam, khả năng hợp tác với tổ chức, cá nhân và đặc điểm về trình độ, giới tính, sức khỏe, tính chất, mức án, phân loại phạm nhân để giao chỉ tiêu, định mức lao động và tổ chức cho phạm nhân lao động.

4. Trong quá trình tổ chức thực hiện, trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến không thể thực hiện hoặc không hoàn thành kế hoạch đã được phê duyệt, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để xem xét, thẩm định, phê duyệt việc điều chỉnh kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân.

Điều 17. Tổ chức lao động cho phạm nhân trong trại giam, trại tạm giam

1. Việc tổ chức lao động cho phạm nhân trong trại giam, trại tạm giam được thực hiện trong phạm vi đất được giao quản lý; trại giam, trại tạm giam trực tiếp tổ chức, quản lý, giám sát và bảo đảm an ninh, an toàn giam giữ phạm nhân trong quá trình lao động.

2. Trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất phục vụ tổ chức lao động cho phạm nhân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất, đối tượng giam giữ và nhu cầu, khả năng hợp tác với tổ chức, cá nhân trình Thủ trưởng Cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp để xem xét, thẩm định và phê duyệt chủ trương hợp tác trước khi tổ chức cho phạm nhân lao động.

3. Cơ sở vật chất do tổ chức, cá nhân hợp tác đầu tư xây dựng thì tổ chức, cá nhân hợp tác phải bàn giao cho trại giam, trại tạm giam quản lý, sử dụng trong thời gian hợp tác.

Tổ chức, cá nhân hợp tác có trách nhiệm hướng dẫn, dạy nghề, truyền nghề, bố trí ngành nghề lao động, có nghĩa vụ thanh toán cho trại giam, trại tạm giam giá trị công lao động phạm nhân, chi trả các chi phí liên quan đến quá trình tổ chức lao động trong thời gian hợp tác, bảo đảm các điều kiện lao động, an toàn lao động cho phạm nhân tham gia lao động theo quy định của pháp luật.

Điều 18. Tổ chức lao động cho phạm nhân ngoài trại giam

1. Phạm nhân không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 29 của Luật Thi hành án hình sự thì được tổ chức lao động ngoài trại giam theo các hình thức sau:

a) Điểm lao động ngoài trại giam là nơi tổ chức cho phạm nhân tham gia lao động theo từng công việc, ngành nghề cụ thể tại địa điểm xác định ngoài trại giam; phạm nhân được đưa đi lao động và trở về trại giam trong ngày; trại giam trực tiếp quản lý, bố trí lực lượng dẫn giải, giám sát, bảo vệ trong suốt thời gian lao động;

b) Khu lao động ngoài trại giam là khu vực được thành lập ổn định, đầu tư xây dựng các hạng mục công trình để phục vụ quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo và tổ chức lao động cho phạm nhân ngoài trại giam; bảo đảm điều kiện thực hiện các chế độ, chính sách đối với phạm nhân và do trại giam trực tiếp quản lý, bố trí lực lượng canh gác, bảo vệ.

2. Trình tự, thủ tục thành lập khu lao động ngoài trại giam thực hiện như sau:

a) Tổ chức, cá nhân có nhu cầu hợp tác tổ chức cho phạm nhân lao động ngoài trại giam gửi văn bản cho trại giam để đề nghị hợp tác tổ chức lao động cho phạm nhân ngoài trại giam. Trại giam và tổ chức, cá nhân xây dựng kế hoạch hợp tác và thỏa thuận nguyên tắc hợp tác tổ chức lao động ngoài trại giam, đồng thời lập tờ trình và hoàn thiện hồ sơ báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an (đối với các trại giam do Bộ Công an quản lý), Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng (đối với các trại giam do Bộ Quốc phòng quản lý) để xem xét, phê duyệt thành lập khu lao động ngoài trại giam;

b) Căn cứ hồ sơ đề nghị thành lập khu lao động ngoài trại giam, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng tổ chức kiểm tra, thẩm định, phê duyệt, ban hành Quyết định thành lập khu lao động ngoài trại giam. Trường hợp các hạng mục công trình chưa bảo đảm theo quy định thì Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng hướng dẫn trại giam phối hợp với tổ chức, cá nhân hợp tác tiếp tục đầu tư, xây dựng, chỉnh sửa, hoàn thiện và trình lại Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để phê duyệt.

3. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng có trách nhiệm quy định, hướng dẫn chi tiết trình tự, thủ tục, hồ sơ, biểu mẫu, thẩm quyền, thời hạn giải quyết trong việc lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương hợp tác và thành lập khu lao động ngoài trại giam tại khoản 2 Điều này, bảo đảm thống nhất, chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và điều kiện thực tế.

Lịch sử hiệu lực

  1. 15/05/2026
    Ban hành
  2. 01/07/2026
    Bắt đầu có hiệu lực

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng cơ quan ban hành: Chính phủ

83/2026/NĐ-CPChính phủ

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ

Còn hiệu lựcBan hành: 23/3/2026Nghị định
10/2026/NQ-CPChính phủ

Về việc tiếp tục áp dụng văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số luật đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế

Còn hiệu lựcBan hành: 10/3/2026Nghị quyết
67/2026/NĐ-CPChính phủ

Quy định chi tiết và biện pháp thi hành về thiết kế kỹ thuật tổng thể của dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt quốc gia, tuyến đường sắt địa phương

Còn hiệu lựcBan hành: 4/3/2026Nghị định
66/2026/NĐ-CPChính phủ

Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục

Còn hiệu lựcBan hành: 2/3/2026Nghị định
65/2026/NĐ-CPChính phủ

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản

Còn hiệu lựcBan hành: 28/2/2026Nghị định
64/2026/NĐ-CPChính phủ

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

Còn hiệu lựcBan hành: 28/2/2026Nghị định

Nguồn: vanban.chinhphu.vn Xem bản gốc

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.