CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 142/2026/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2026
NGHỊ ĐỊNH
Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Trí tuệ nhân tạo
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Trí tuệ nhân tạo bao gồm:
a) Khoản 4 Điều 8 về cơ chế vận hành, quản lý, khai thác Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo;
b) Điều 9 về phân loại mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo;
c) Khoản 7 Điều 10 về nội dung cảnh thông báo, trình tự, thủ tục thông báo và hướng dẫn kỹ thuật về phân loại rủi ro;
d) Khoản 6 Điều 11 về hình thức thông báo, gắn nhãn;
đ) Khoản 5 Điều 12 về việc báo cáo và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phù hợp với mức độ nghiêm trọng của sự cố và phạm vi ảnh hưởng của hệ thống trí tuệ nhân tạo;
e) Điều 13 về đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao;
g) Điều 14 về quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao;
h) Khoản 6 Điều 16 về cơ chế điều phối, chia sẻ, ưu đãi và biện pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia, phù hợp từng giai đoạn và yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh quốc gia;
i) Khoản 6 Điều 17 về nguyên tắc kết nối, cơ chế chia sẻ, khai thác và bảo đảm an toàn dữ liệu trong cơ sở dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo;
k) Khoản 5 Điều 18 về cơ chế, tiêu chí và biện pháp thúc đẩy làm chủ công nghệ trí tuệ nhân tạo, phù hợp từng giai đoạn phát triển và yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh quốc gia;
2
l) Khoản 6 Điều 20 về cơ chế, điều kiện và quy trình thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển hệ sinh thái và thị trường trí tuệ nhân tạo;
m) Điều 21 về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo;
n) Khoản 4 Điều 24 về tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận, cơ chế hoạt động của cụm liên kết trí tuệ nhân tạo và chính sách ưu đãi;
o) Khoản 7 Điều 25 về cơ chế, chính sách, điều kiện và quy trình thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo;
p) Khoản 5 Điều 27 về nội dung, quy trình và trách nhiệm đánh giá tác động, quản lý rủi ro và giám sát việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
2. Nghị định này quy định biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo về trách nhiệm minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức.
3. Hoạt động trí tuệ nhân tạo liên quan đến bí mật nhà nước còn phải thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về an ninh mạng và pháp luật về cơ yếu.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với:
1. Nhà cung cấp, nhà phát triển, bên triển khai, người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, người bị ảnh hưởng bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hồ sơ kỹ thuật của hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao là tập hợp tài liệu kỹ thuật phù hợp với mức độ rủi ro của hệ thống, phục vụ việc phân loại, đánh giá sự phù hợp, giám sát và xử lý sự cố, bao gồm mô tả chức năng hệ thống, mô tả dữ liệu huấn luyện, quy trình kiểm thử, biện pháp quản lý rủi ro và các thông tin kỹ thuật liên quan khác theo quy định của pháp luật.
2. Mã định danh hệ thống trí tuệ nhân tạo là mã điện tử phục vụ quản lý hồ sơ được tạo lập tự động trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo khi nhà cung cấp thực hiện thông báo kết quả phân loại rủi ro.
3. Giá trị chịu rủi ro là tổng giá trị bằng tiền của giao dịch hoặc tài sản mà tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm đề xuất, phê duyệt hoặc thực thi trong phạm vi nghiệm có kiểm soát.
4. Mô hình trí tuệ nhân tạo là thành phần thuật toán của hệ thống trí tuệ nhân tạo, được huấn luyện từ dữ liệu để học, biểu diễn và suy luận các quy luật của dữ liệu, qua đó tạo ra các đầu ra như dự đoán, nội dung, khuyến nghị hoặc quyết định.
5. Thẻ mô hình là tài liệu đi kèm mô hình trí tuệ nhân tạo, cung cấp thông tin mô tả về đặc tính của mô hình, mục đích sử dụng, phạm vi áp dụng, các hạn chế và
rủi ro tiềm ẩn, dữ liệu huấn luyện, các tham số và điều kiện huấn luyện, cũng như kết quả đánh giá hiệu năng của mô hình, nhằm bảo đảm khả năng minh bạch, truy vết và tái lập trong quá trình phát triển và sử dụng mô hình.
6. Hệ thống là tài liệu mô tả hệ thống trí tuệ nhân tạo bao gồm thông tin về kiến trúc hệ thống, các thành phần cấu thành, mô hình được sử dụng, dữ liệu phục vụ huấn luyện hoặc tăng cường hệ thống, mục đích và phạm vi triển khai, các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, cung ứng thông tin về sự cố, lỗ hổng hoặc biện pháp khắc phục có liên quan, nhằm bảo đảm minh bạch, hỗ trợ đánh giá, giám sát và sử dụng hệ thống một cách có trách nhiệm.
7. Dữ liệu mở có điều kiện là dữ liệu được phép truy cập, sử dụng khi cơ quan, tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện về đăng ký, mục đích sử dụng và yêu cầu bảo mật theo quy định của pháp luật.
8. Dữ liệu thương mại phục vụ trí tuệ nhân tạo là dữ liệu của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân được cung cấp, chia sẻ và khai thác trên cơ sở thỏa thuận dân sự, thương mại, tuân thủ pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và sở hữu trí tuệ.
Điều 4. Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm quản lý, vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo để thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Tiếp nhận thông báo kết quả phân loại mức độ rủi ro, kết quả đánh giá sự phù hợp; xác lập mã định danh hệ thống trí tuệ nhân tạo; tiếp nhận thông tin cập nhật hồ sơ phân loại rủi ro và các thông tin khác về hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Nghị định này;
b) Tiếp nhận báo cáo sự cố, báo cáo định kỳ và các thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Nghị định này;
c) Hỗ trợ phân loại rủi ro tự động hệ thống trí tuệ nhân tạo;
d) Công khai thông tin về hệ thống trí tuệ nhân tạo, kết quả đánh giá sự phù hợp, danh sách các cụm liên kết trí tuệ nhân tạo được công nhận, kết quả xử lý vi phạm, thông tin về năng lực hạ tầng trí tuệ nhân tạo dùng chung, điều kiện truy cập, quy định kỹ thuật, phương thức và quy trình khai thác dữ liệu, các chương trình, cơ chế hỗ trợ;
đ) Tiếp nhận yêu cầu hướng dẫn; tiếp nhận, đăng tải đề lấy ý kiến, công khai báo cáo đánh giá tác động và phục vụ việc theo dõi, giám sát việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong cơ quan nhà nước theo quy định của Nghị định này;
e) Tiếp nhận đăng ký nhu cầu và phát hành thông báo về quyền khai thác hạ tầng phục vụ nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trên môi trường điện tử.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ là chủ quản dữ liệu đối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, giám sát và tổng hợp thông tin về hệ thống trí tuệ nhân tạo.
3. Việc thu thập, cập nhật, công khai, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ
thống trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm quy định pháp luật về giao dịch điện tử và các yêu cầu sau đây:
a) Phù hợp với mục đích quản lý nhà nước và phạm vi thông tin được pháp luật cho phép;
b) Tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và bảo vệ dữ liệu cá nhân;
c) Không làm phát sinh thủ tục hành chính, nghĩa vụ báo cáo hoặc yêu cầu cung cấp thông tin đối với tổ chức, cá nhân ngoài các trường hợp quy định tại Nghị định này;
d) Các hệ thống trí tuệ nhân tạo, cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan Đảng, tổ chức chính trị, hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc danh mục bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh không thuộc phạm vi phải thông báo, đăng ký, chia sẻ dữ liệu công khai trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
4. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật về dữ liệu, mô hình dữ liệu và quy chế cập nhật, khai thác, chia sẻ dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ thông suốt giữa trung ương và địa phương.
Chương II
PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP HỆ THỐNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Điều 5. Nguyên tắc phân loại và đánh giá sự phù hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Việc phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo phải dựa trên mức độ rủi ro theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này.
2. Nhà cung cấp phải thực hiện phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng.
3. Bên triển khai phải phối hợp với nhà cung cấp để rà soát, phân loại lại hệ thống trí tuệ nhân tạo khi việc triển khai, sửa đổi, tích hợp hoặc thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn của hệ thống đã được phân loại.
4. Nhà cung cấp và bên triển khai phải thực hiện đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này.
5. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo được tích hợp trong sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hoặc pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật đó đối với sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng; đồng thời thực hiện các yêu cầu quản lý rủi ro đặc thù của thành phần trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này.
6. Cơ quan quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phải bảo đảm nguyên tắc không trùng lặp trong phân loại, đánh giá sự phù hợp và kiểm tra đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo. Kết quả thử nghiệm, kiểm định,
chứng nhận hợp quy hoặc kết quả đánh giá sự phù hợp đã được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sử dụng để chứng minh việc đáp ứng yêu cầu tương ứng theo pháp luật về trí tuệ nhân tạo trong phạm vi nội dung đã được đánh giá hợp pháp, đầy đủ và còn hiệu lực thì tổ chức, cá nhân không phải thực hiện lại nội dung đó.
7. Trường hợp kết quả quy định tại khoản 4 Điều này chưa bao phủ đầy đủ yêu cầu quản lý rủi ro đặc thù của hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này, nhà cung cấp hoặc bên triển khai chi phải thực hiện bổ sung đối với nội dung chưa được đánh giá hoặc chưa được chứng minh.
8. Bộ Khoa học và Công nghệ cung cấp công cụ hỗ trợ điện tử phục vụ việc tự đánh giá, phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Điều 8 của Nghị định này. Việc sử dụng công cụ hỗ trợ điện tử có tính chất hỗ trợ, không bắt buộc và không làm phát sinh thủ tục phê duyệt hành chính hoặc nghĩa vụ khác ngoài quy định của Nghị định này.
Điều 6. Phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Nhà cung cấp có trách nhiệm tự thực hiện việc phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của kết quả phân loại.
2. Việc phân loại quy định tại Điều này chi áp dụng đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo; không áp dụng đối với mô hình trí tuệ nhân tạo, trừ trường hợp mô hình được sử dụng như một thành phần của hệ thống trí tuệ nhân tạo cụ thể.
3. Mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định như sau:
a) Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại rủi ro cao là các hệ thống thuộc Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo;
b) Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại có rủi ro trung bình là hệ thống không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 9 của Nghị định này;
c) Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại có rủi ro thấp là hệ thống không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
4. Trường hợp bên triển khai sửa đổi, tích hợp, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng của hệ thống so với công bố ban đầu của nhà cung cấp làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn, bên triển khai có trách nhiệm phối hợp với nhà cung cấp để rà soát, phân loại lại mức rủi ro.
Điều 7. Danh mục và quy trình ban hành hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo bao gồm:
a) Danh mục các hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định là có rủi ro cao;
b) Danh mục các hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải chứng nhận sự phù
6
hợp trước khi đưa vào sử dụng.
2. Trách nhiệm rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Danh mục quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm rà soát, đánh giá việc triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo trên địa bàn; đề xuất sửa đổi, bổ sung Danh mục và gửi bộ quản lý ngành, lĩnh vực để xem xét, tổng hợp;
b) Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm rà soát, đánh giá và đề xuất, sửa đổi, bổ sung Danh mục đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc lĩnh vực quản lý, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, thẩm định;
c) Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền đề xuất bổ sung vào Danh mục đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao được sử dụng trong công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm nhân sự thuộc hệ thống chính trị để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
d) Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các tổ chức liên quan tổng hợp, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung Danh mục quy định tại khoản 1 Điều này trên cơ sở tiêu chí, nguyên tắc quy định tại Điều 8 của Nghị định này.
Điều 8. Tiêu chí và nguyên tắc xây dựng Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định là có rủi ro cao khi đáp ứng một hoặc nhiều tiêu chí sau đây:
a) Mức độ tác động: Mức độ có thể gây thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền con người, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc an ninh quốc gia; mức độ tự động của hệ thống; mức độ hỗ trợ ra quyết định cuối cùng; khả năng giám sát và can thiệp của con người trong thực thi hành động;
b) Lĩnh vực sử dụng: Triển khai trong lĩnh vực thiết yếu quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Trí tuệ nhân tạo hoặc các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng;
c) Phạm vi người sử dụng và quy mô ảnh hưởng: Phạm vi người sử dụng, quy mô đối tượng chịu tác động hoặc mức độ kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật quan trọng.
2. Hệ thống trí tuệ nhân tạo mặc dù thuộc tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này nhưng không được đề xuất đưa vào Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:
a) Chỉ thực hiện các tác vụ thu thập, xử lý, chuẩn hóa, phân loại, dịch thuật hoặc cải thiện chất lượng dữ liệu; không trực tiếp tạo lập quyết định làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
b) Có cơ chế kỹ thuật và quy trình vận hành bảo đảm sự giám sát thực chất của
7
con người, theo đó người có thẩm quyền có khả năng xem xét độc lập, can thiệp, từ chối hoặc thay đổi quyết định của hệ thống trước khi quyết định đó có hiệu lực;
c) Chỉ sử dụng phục vụ hoạt động quản trị, vận hành nội bộ của tổ chức, doanh nghiệp; không trực tiếp tác động đến quyền, nghĩa vụ pháp lý hoặc lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bên ngoài tổ chức;
d) Chỉ thực hiện chức năng phân tích, dự báo, đánh giá, khuyến nghị mang tính tham khảo; nhà cung cấp và bên triển khai không được sử dụng kết quả đầu ra làm căn cứ duy nhất để ra quyết định cuối cùng.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ tiêu chí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này để đề xuất hệ thống trí tuệ nhân tạo đưa vào Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao.
4. Bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao quy định tại Điều 7 của Nghị định này và yêu cầu quản lý theo lĩnh vực, đề xuất các hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng.
5. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo đáp ứng trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có bằng chứng kỹ thuật hoặc thực tiễn có thể đo lường được cho thấy hệ thống tồn tại nguy cơ, lỗ hổng nghiêm trọng có khả năng trực tiếp gây thiệt hại đến quốc phòng, an ninh hoặc trật tự, an toàn xã hội, Thủ tướng Chính phủ xem xét đưa vào Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao và nêu rõ căn cứ trong Quyết định ban hành Danh mục.
Điều 9. Phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro trung bình
1. Nhà cung cấp có trách nhiệm phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo vào nhóm rủi ro trung bình khi hệ thống đó đáp ứng đồng thời các điều kiện sau đây:
a) Không thuộc Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo;
b) Có khả năng gây nhầm lẫn, tác động hoặc thao túng người sử dụng do người sử dụng không nhận biết được chủ thể tương tác là hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc nội dung do hệ thống tạo ra theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
2. Bên triển khai áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này để thực hiện phân loại lại hệ thống trí tuệ nhân tạo đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
3. Nhà cung cấp, bên triển khai không phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo là hệ thống có rủi ro trung bình khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hệ thống chỉ hỗ trợ chỉnh sửa kỹ thuật nhắm cải thiện hình thức nội dung, không tạo nội dung mới và không thay đổi danh tính của chủ thể;
b) Hệ thống hỗ trợ công việc văn phòng mà người sử dụng có thể nhận biết rõ ràng bản chất chức năng là công cụ trí tuệ nhân tạo thông qua bối cảnh sử dụng và không có chức năng mô phỏng, giả lập có khả năng gây nhầm lẫn về danh tính, tính
xác thực của sự kiện;
c) Hệ thống không tương tác, cung cấp trực tiếp dịch vụ hoặc nội dung ra công chúng bao gồm cả trường hợp không phát hành ra công chúng thông qua bên thứ ba, nền tảng trung gian;
d) Hệ thống được sử dụng trong hoạt động nghệ thuật, điện ảnh, trò chơi điện tử hoặc hoạt động sáng tạo khác; bối cảnh công bố thể hiện rõ nội dung mang tính hư cấu;
d) Hệ thống trí tuệ nhân tạo chỉ thực hiện xử lý, phân tích dữ liệu hoặc tối ưu vận hành trong hệ thống kỹ thuật; không tương tác trực tiếp với người sử dụng, không tạo nội dung cung cấp ra công chúng và không trực tiếp tương tác với môi trường vật lý như chức năng điều khiển chính của hệ thống.
Điều 10. Công cụ hỗ trợ phân loại rủi ro tự động
1. Bộ Khoa học và Công nghệ thiết lập, duy trì Công cụ hỗ trợ phân loại rủi ro tự động trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo nhằm hỗ trợ nhà cung cấp, bên triển khai tự đánh giá, phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo.
2. Nhà cung cấp không bắt buộc phải sử dụng Công cụ hỗ trợ phân loại rủi ro tự động quy định tại khoản 1 Điều này. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được yêu cầu nhà cung cấp phải nộp kết quả phân loại xuất từ Công cụ này như một thành phần hồ sơ bắt buộc trong bất kỳ thủ tục hành chính nào.
3. Kết quả phân loại rủi ro từ Công cụ hỗ trợ phân loại rủi ro tự động được xác định là một tài liệu điện tử hợp lệ của nhà cung cấp và là một trong các căn cứ thực tế để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp luật về phân loại rủi ro của nhà cung cấp.
4. Trường hợp chưa xác định được mức độ rủi ro sau khi sử dụng Công cụ hỗ trợ phân loại rủi ro tự động, nhà cung cấp có quyền đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn việc phân loại trên cơ sở hồ sơ kỹ thuật theo quy định tại khoản 4 Điều 10 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
Điều 11. Rà soát và cập nhật mức độ rủi ro
1. Nhà cung cấp phải thực hiện rà soát và phân loại lại mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo khi phát sinh một trong các sự kiện pháp lý sau đây:
a) Hệ thống có sự thay đổi đáng kể về chức năng, mục đích sử dụng hoặc ngữ cảnh triển khai làm ảnh hưởng đến tiêu chí phân loại rủi ro ban đầu của hệ thống;
b) Hệ thống xảy ra sự cố nghiêm trọng chứng minh mức độ rủi ro thực tế cao hơn mức đã được phân loại;
c) Có quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao làm thay đổi mức độ rủi ro của hệ thống;
d) Có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 10 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
2. Bên triển khai phải phối hợp với nhà cung cấp thực hiện phân loại lại hệ thống trí tuệ nhân tạo trong trường hợp bên triển khai thực hiện sửa đổi, tích hợp hoặc thay đổi chức năng làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn so với kết quả
phân loại ban đầu của nhà cung cấp.
3. Việc thực hiện thông báo kết quả sau khi rà soát, phân loại lại được quy định như sau:
a) Trường hợp kết quả phân loại lại xác định mức độ rủi ro của hệ thống cao hơn mức đã phân loại, nhà cung cấp, bên triển khai phải thực hiện thông báo kết quả phân loại lại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc rà soát và phải áp dụng ngay các biện pháp quản lý rủi ro tương ứng với mức độ rủi ro mới;
b) Trường hợp kết quả phân loại lại xác định mức độ rủi ro của hệ thống thấp hơn mức đã phân loại, nhà cung cấp, bên triển khai có quyền thực hiện thông báo kết quả phân loại lại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được áp dụng chế độ quản lý tương ứng với mức độ rủi ro mới.
4. Nhà cung cấp, bên triển khai không phải thực hiện rà soát và thông báo phân loại lại khi tiến hành các hoạt động nâng cấp, tối ưu hóa hiệu suất, sửa lỗi kỹ thuật thông thường hoặc cập nhật dữ liệu định kỳ mà không làm thay đổi bản chất rủi ro của hệ thống.
5. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo phải phân loại lại thành rủi ro cao theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, nhà cung cấp, bên triển khai áp dụng thời gian chuyển tiếp tối đa 12 tháng kể từ ngày quyết định sửa đổi, bổ sung Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực để hoàn thiện hồ sơ và thủ tục đánh giá sự phù hợp theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo. Trong thời hạn chuyển tiếp, hệ thống được phép tiếp tục hoạt động nhưng nhà cung cấp, bên triển khai phải thiết lập và duy trì cơ chế giám sát thực chất của con người. Người thực hiện giám sát phải được bảo đảm đủ thông tin, thẩm quyền để đánh giá độc lập, can thiệp hoặc bác bỏ kết quả của hệ thống; đồng thời, nhà cung cấp, bên triển khai phải lưu trữ đầy đủ nhật ký vận hành và các quyết định can thiệp để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra.
Điều 12. Hồ sơ phân loại rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Nhà cung cấp phải lập hồ sơ phân loại rủi ro đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao và hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro trung bình trước khi đưa hệ thống vào sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
2. Đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao và rủi ro trung bình, nhà cung cấp phải bảo đảm hồ sơ phân loại rủi ro bao gồm các tài liệu sau đây:
a) Thông tin nhận diện hệ thống, bao gồm: tên hệ thống; phiên bản; mã định danh, nhãn bổ hoặc mã định danh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; tên, địa chỉ và thông tin liên hệ của nhà cung cấp;
b) Mô tả hệ thống và bối cảnh sử dụng: mục đích sử dụng; chức năng chính; kiến trúc hệ thống ở mức chức năng, nghiệp vụ; phạm vi triển khai; nhóm người sử dụng và người bị ảnh hưởng;
c) Thông tin về dữ liệu: Mô tả khái quát loại dữ liệu đầu vào chủ yếu được sử dụng để vận hành hệ thống;
d) Nội dung quản lý rủi ro: Tóm tắt các biện pháp quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn và tính minh bạch của hệ thống.
3. Trường hợp nhà cung cấp phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo dựa trên nền tảng, mô hình hoặc dịch vụ trí tuệ nhân tạo của bên thứ ba, nhà cung cấp chỉ phải cung cấp thông tin kỹ thuật và thông tin về dữ liệu trong phạm vi quyền tiếp cận và kiểm soát hợp pháp của mình.
4. Việc lập, cung cấp và quản lý hồ sơ phân loại rủi ro không bắt buộc nhà cung cấp phải tiết lộ mã nguồn, bộ tham số mô hình, thuật toán chi tiết, dữ liệu huấn luyện thô hoặc các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật Trí tuệ nhân tạo, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Nhà cung cấp có quyền sử dụng tài liệu mô tả kỹ thuật mô hình hoặc tài liệu kỹ thuật tương đương được lập theo tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng các thành phần hồ sơ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, với điều kiện các tài liệu đó đáp ứng đầy đủ các nội dung thông tin theo yêu cầu của Nghị định này.
6. Nhà cung cấp, bên triển khai có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ phân loại rủi ro trong suốt thời gian hệ thống hoạt động.
7. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo có sử dụng dữ liệu cá nhân, nhà cung cấp được sử dụng Hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân để thay thế hoặc tích hợp làm thành phần của Hồ sơ phân loại rủi ro, nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ hành chính.
Điều 13. Đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Nhà cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải thực hiện đánh giá sự phù hợp trước khi đưa hệ thống vào sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
Trong quá trình sử dụng, nhà cung cấp phải thực hiện đánh giá lại sự phù hợp khi có thay đổi đáng kể làm ảnh hưởng đến kết quả đánh giá sự phù hợp ban đầu, bao gồm một trong các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi chức năng chính, mục đích sử dụng hoặc phạm vi ứng dụng của hệ thống làm phát sinh rủi ro mới hoặc làm thay đổi mức độ rủi ro đã được đánh giá;
b) Thay đổi kiến trúc hệ thống, mô hình trí tuệ nhân tạo hoặc cấu hình kỹ thuật chủ yếu có thể ảnh hưởng đến tính chính xác, độ tin cậy, mức độ an toàn hoặc khả năng kiểm soát của hệ thống;
c) Thay đổi nguồn dữ liệu, loại dữ liệu đầu vào chủ yếu hoặc phương thức xử lý dữ liệu làm ảnh hưởng đáng kể đến kết quả vận hành hoặc mức độ rủi ro của hệ thống;
d) Tích hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo với hệ thống khác hoặc môi trường vận hành mới có thể làm phát sinh rủi ro mới hoặc làm thay đổi điều kiện vận hành đã được đánh giá;
đ) Các thay đổi khác làm ảnh hưởng đáng kể đến việc đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 14 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
11
Các hoạt động cập nhật dữ liệu định kỳ, sửa lỗi kỹ thuật, tối ưu hiệu năng hoặc nâng cấp phiên bản không làm thay đổi việc đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 14 của Luật Trí tuệ nhân tạo của hệ thống không được coi là thay đổi đáng kể theo quy định tại khoản này.
2. Nhà cung cấp phải thực hiện đánh giá sự phù hợp với yêu cầu của Điều 14 của Luật Trí tuệ nhân tạo theo các phương thức sau đây:
a) Đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao thuộc Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng, nhà cung cấp phải thực hiện đánh giá sự phù hợp thông qua tổ chức đánh giá sự phù hợp quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này, nhà cung cấp có quyền tự thực hiện đánh giá sự phù hợp hoặc sử dụng dịch vụ của tổ chức đánh giá sự phù hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp tự thực hiện đánh giá sự phù hợp, nhà cung cấp phải lập hồ sơ kỹ thuật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đánh giá.
3. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành có quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc đánh giá sự phù hợp, nhà cung cấp có quyền sử dụng kết quả đánh giá theo pháp luật chuyên ngành để chứng minh sự phù hợp đối với các yêu cầu tương ứng quy định tại Điều 14 của Luật Trí tuệ nhân tạo. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được yêu cầu nhà cung cấp thực hiện đánh giá lại đối với các nội dung đã được chứng nhận đạt yêu cầu, bảo đảm không làm phát sinh thủ tục hành chính trùng lặp.
4. Tổ chức đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau đây:
a) Được thành lập và đã đăng ký hoạt động đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;
b) Bảo đảm tính độc lập, khách quan trong hoạt động đánh giá sự phù hợp;
c) Đáp ứng điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với lĩnh vực đánh giá hệ thống trí tuệ nhân tạo;
d) Có đội ngũ chuyên gia, nhân sự và phương tiện kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chuyên môn về trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và quản trị dữ liệu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc hướng dẫn do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;
đ) Chịu sự giám sát định kỳ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
5. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp do tổ chức đánh giá sự phù hợp của nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Nhà cung cấp được sử dụng kết quả đánh giá sự phù hợp đã được thừa nhận để chứng minh sự phù hợp đối với các nội dung tương ứng đã được đánh giá. Đối với các nội dung chưa được đánh giá hoặc chưa được thừa nhận, nhà cung cấp phải tiếp
tục thực hiện việc đánh giá sự phù hợp theo quy định tại Điều này.
6. Nhà cung cấp có hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao đã được đánh giá sự phù hợp phải duy trì sự phù hợp và công khai thông tin về kết quả đánh giá sự phù hợp trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng và khi cập nhật kết quả đánh giá lại. Nội dung công khai bao gồm:
a) Tên hệ thống trí tuệ nhân tạo, phiên bản hệ thống và mã định danh hệ thống trí tuệ nhân tạo, nếu có;
b) Tên, địa chỉ và thông tin liên hệ của nhà cung cấp;
c) Phương thức đánh giá sự phù hợp đã áp dụng;
d) Tên tổ chức đánh giá sự phù hợp trong trường hợp nhà cung cấp thực hiện đánh giá sự phù hợp thông qua tổ chức đánh giá sự phù hợp;
đ) Kết luận về sự phù hợp của hệ thống trí tuệ nhân tạo;
e) Thời điểm hoàn thành đánh giá sự phù hợp hoặc thời điểm kết quả đánh giá sự phù hợp được thừa nhận;
g) Thời điểm cập nhật thông tin gần nhất.
Điều 14. Thông báo kết quả phân loại rủi ro đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Nhà cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro trung bình và hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải thông báo kết quả phân loại rủi ro cho Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng. Nhà cung cấp tự kê khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông báo.
2. Nhà cung cấp phải bảo đảm nội dung thông báo kết quả phân loại rủi ro tuân thủ theo quy định tại Điều 12 của Nghị định này.
3. Nhà cung cấp thực hiện thông báo bằng phương thức điện tử trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo theo một trong các hình thức sau đây:
a) Kê khai trực tiếp theo biểu mẫu điện tử trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo;
b) Gửi thông tin tự động thông qua giao diện lập trình ứng dụng hoặc phương thức điện tử phù hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo tự động ghi nhận thông tin, cấp mã định danh hệ thống trí tuệ nhân tạo và gửi xác nhận điện tử cho nhà cung cấp ngay sau khi nhà cung cấp hoàn tất việc gửi thông báo. Trong quá trình tiếp nhận thông báo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được yêu cầu nhà cung cấp nộp thêm tài liệu hoặc bổ sung thành phần hồ sơ tính ngoài nội dung quy định tại khoản 2 Điều này. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Nhà cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải thiết lập và duy trì hệ thống quản lý rủi ro đối với hệ thống do mình cung cấp phù hợp với mục đích sử
dụng, phạm vi triển khai và mức độ rủi ro của hệ thống.
2. Hệ thống quản lý rủi ro quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm tối thiểu các nội dung sau đây:
a) Xác định và đánh giá các rủi ro có thể phát sinh đối với quyền con người, an toàn, an ninh hoặc lợi ích công cộng trong quá trình thiết kế, phát triển và cung cấp hệ thống;
b) Bảo đảm chất lượng, tính phù hợp và tính đại diện của dữ liệu huấn luyện, dữ liệu kiểm thử và dữ liệu đánh giá trong phạm vi cần thiết để hạn chế rủi ro phát sinh từ dữ liệu;
c) Thiết kế và duy trì cơ chế giám sát và can thiệp của con người phù hợp với mức độ rủi ro của hệ thống;
d) Áp dụng biện pháp kỹ thuật hoặc biện pháp quản lý nhằm phòng ngừa, hạn chế hoặc kiểm soát các rủi ro đã được xác định;
đ) Rà soát và cập nhật biện pháp quản lý rủi ro khi hệ thống có thay đổi đáng kể về mô hình, dữ liệu, phương thức vận hành hoặc mục đích sử dụng.
3. Nhà cung cấp có trách nhiệm cung cấp cho bên triển khai các thông tin cần thiết về mục đích sử dụng của hệ thống, điều kiện vận hành an toàn, các rủi ro đã được xác định và biện pháp quản lý rủi ro tương ứng để bảo đảm việc triển khai và sử dụng hệ thống đúng mục đích.
4. Bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải tổ chức quản lý rủi ro trong quá trình triển khai và vận hành hệ thống phù hợp với mục đích sử dụng, phạm vi triển khai, mức độ rủi ro của hệ thống và hướng dẫn kỹ thuật của nhà cung cấp.
5. Trong quá trình triển khai và vận hành, bên triển khai thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro sau đây:
a) Vận hành hệ thống đúng mục đích sử dụng, điều kiện sử dụng và giới hạn sử dụng do nhà cung cấp xác định;
b) Tổ chức giám sát hoạt động của hệ thống nhằm phát hiện sai lệch, rủi ro hoặc sự cố có thể phát sinh;
c) Thiết lập và duy trì cơ chế giám sát và can thiệp của con người trong quá trình sử dụng hệ thống theo quy định của pháp luật;
d) Áp dụng biện pháp hạn chế hoặc kiểm soát rủi ro trong phạm vi quyền kiểm soát của mình khi phát hiện hệ thống hoạt động không đúng mục đích sử dụng hoặc phát sinh rủi ro mới;
đ) Phối hợp với nhà cung cấp trong việc rà soát, cập nhật biện pháp quản lý rủi ro khi hệ thống có thay đổi đáng kể hoặc khi phát sinh sự cố.
6. Trường hợp phát hiện hệ thống có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, quyền con người, tài sản, an ninh mạng, trật tự, an toàn xã hội hoặc lợi ích công cộng, bên triển khai phải kịp thời áp dụng biện pháp hạn chế rủi ro trong phạm vi quyền kiểm soát của mình và thông báo cho nhà cung cấp và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Chương III
MINH BẠCH, GIẢI TRÌNH VÀ XỬ LÝ SỰ CỐ
HỆ THỐNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Điều 16. Nguyên tắc minh bạch và giải trình
1. Nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo phải thực hiện trách nhiệm minh bạch, thông báo, đánh dấu kỹ thuật và gắn nhãn hiển thị đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo và nội dung do hệ thống tạo ra theo quy định tại Điều 11 của Luật Trí tuệ nhân tạo. Việc thực hiện trách nhiệm minh bạch phải phù hợp với mục đích sử dụng, bối cảnh triển khai và mức độ rủi ro của hệ thống.
2. Nhà cung cấp và bên triển khai phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Thông báo, đánh dấu kỹ thuật và gắn nhãn hiển thị đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo và nội dung do hệ thống tạo ra theo quy định của pháp luật;
b) Cung cấp thông tin về mục đích sử dụng, phạm vi áp dụng, điều kiện sử dụng và các hạn chế của hệ thống trí tuệ nhân tạo;
c) Lưu trữ thông tin, tài liệu phục vụ việc kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.
3. Nhà cung cấp và bên triển khai phải giải trình khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Luật Trí tuệ nhân tạo. Phạm vi, nội dung và thời hạn giải trình phải phù hợp với địa vị pháp lý của từng chủ thể và mức độ rủi ro của hệ thống.
4. Khi thực hiện trách nhiệm giải trình và cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật, nhà cung cấp và bên triển khai không bắt buộc phải tiết lộ mã nguồn, thuật toán chi tiết, dữ liệu huấn luyện, bộ tham số hoặc thông tin thuộc phạm vi bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Việc cung cấp thông tin trong quá trình minh bạch, giải trình phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật về dữ liệu.
6. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo tích hợp mô hình trí tuệ nhân tạo của tổ chức, cá nhân khác, nhà cung cấp phải thỏa thuận với tổ chức, cá nhân cung cấp mô hình để bảo đảm việc phối hợp cung cấp thông tin kỹ thuật cần thiết phục vụ việc thực hiện trách nhiệm minh bạch và giải trình theo quy định của pháp luật.
Điều 17. Đánh dấu kỹ thuật đối với nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra
1. Nhà cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo phải áp dụng giải pháp kỹ thuật đối với nội dung đầu ra là âm thanh, hình ảnh hoặc video được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật Trí tuệ nhân tạo. Nhà cung cấp không bắt buộc phải thực hiện đánh dấu kỹ thuật ở định dạng máy đọc đối với nội dung đầu ra là văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc đánh dấu kỹ thuật quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm khả năng nhận diện bằng máy đọc và có thể được thực hiện bằng một trong các biện pháp sau đây:
a) Tích hợp dấu hiệu nhận biết vào cấu trúc tệp tin hoặc dữ liệu nội dung;
b) Tích hợp dấu hiệu nhận biết vào siêu dữ liệu của tệp tin;
c) Sử dụng chữ ký số, chữ ký điện tử hoặc phương thức xác thực kỹ thuật tương đương;
d) Áp dụng giải pháp kỹ thuật khác bảo đảm khả năng nhận diện nội dung được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo.
3. Dấu hiệu nhận biết ở định dạng máy đọc phải thể hiện thông tin xác nhận nội dung được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo. Nhà cung cấp có thể tích hợp thêm thông tin về nhà cung cấp, hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc thời điểm tạo, chỉnh sửa nội dung nếu giải pháp kỹ thuật cho phép, nhằm phục vụ việc xác thực nguồn gốc và truy vết nội dung.
4. Nhà cung cấp phải bảo đảm chức năng đánh dấu kỹ thuật được duy trì trong quá trình tạo, xuất và cung cấp nội dung trong phạm vi các chức năng do hệ thống kiểm soát.
5. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo được cung cấp dưới dạng mã nguồn mở hoặc cung cấp miễn phí, nhà cung cấp được coi là đã thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này khi:
a) Tích hợp sẵn chức năng đánh dấu kỹ thuật; hoặc
b) Công bố công khai công cụ, cấu hình tiêu chuẩn, giao diện lập trình ứng dụng hoặc tài liệu kỹ thuật cho phép bên triển khai cấu hình và vận hành chức năng đánh dấu.
Bên triển khai khi sử dụng hệ thống này để cung cấp nội dung ra công cộng phải áp dụng giải pháp kỹ thuật để thực hiện việc đánh dấu nội dung đầu ra.
6. Bộ Khoa học và Công nghệ công bố và cập nhật danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc hướng dẫn kỹ thuật tham chiếu phục vụ việc thực hiện đánh dấu kỹ thuật quy định tại Điều này. Việc công bố quy định tại khoản này không làm phát sinh thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc nghĩa vụ ngoài quy định của Nghị định này.
Điều 18. Thông báo và gắn nhãn hiển thị đối với nội dung do hệ thống trí
tuệ nhân tạo tạo ra
1. Bên triển khai phải thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc chỉnh sửa có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật hoặc nguồn gốc nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 11 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
2. Bên triển khai phải gắn nhãn để nhận biết đối với âm thanh, hình ảnh hoặc video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong các trường hợp sau đây:
a) Mô phỏng hoặc giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật;
b) Tái hiện sự kiện thực tế để phân biệt với nội dung thật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Việc thông báo và gắn nhãn hiển thị phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Rõ ràng, dễ hiểu và dễ nhận biết đối với người tiếp nhận;
b) Được thực hiện trước hoặc tại thời điểm người tiếp nhận tiếp cận nội dung;
c) Không được thiết kế theo cách che giấu hoặc làm giảm khả năng nhận biết bản chất của nội dung;
d) Phù hợp với loại hình nội dung và phương thức cung cấp nội dung;
đ) Không gây cản trở đáng kể việc hiển thị, trình diễn hoặc sử dụng nội dung.
4. Bên triển khai không phải thực hiện nghĩa vụ gắn nhãn hiển thị trong các trường hợp sau đây:
a) Nội dung được chỉnh sửa kỹ thuật nhằm cải thiện chất lượng âm thanh, hình ảnh hoặc video mà không làm thay đổi bản chất hoặc ngữ cảnh chính của nội dung;
b) Văn bản được xử lý bằng công cụ hỗ trợ sửa lỗi chính tả, ngữ pháp, tóm tắt, diễn giải hoặc dịch thuật mà không làm sai lệch nội dung cơ bản của văn bản gốc;
c) Nội dung được sử dụng trong phạm vi nội bộ của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và không được cung cấp ra cộng đồng;
d) Nội dung được tạo ra trong quá trình nghiên cứu, phát triển hoặc thử nghiệm trong mội trường kiểm soát và không được cung cấp ra cộng đồng.
5. Bên triển khai có quyền lựa chọn hình thức thể hiện thông báo và nhãn hiển thị phù hợp với loại hình nội dung và phương thức cung cấp, bao gồm:
a) Hiển thị trực tiếp trên nội dung;
b) Hiển thị tại tiêu đề, phần mô tả hoặc chú thích kèm theo nội dung;
c) Hiển thị trên giao diện cua nền tảng cung cấp nội dung;
d) Phát thông báo bằng âm thanh hoặc hình thức phù hợp khác.
6. Đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình nghệ thuật hoặc nội dung sáng tạo, việc thông báo và gắn nhãn hiển thị do bên triển khai trực tiếp đưa nội dung ra cộng đồng thực hiện và có thể được thực hiện tại phần mở đầu, phần kết thúc, phần danh đề, phần mô tả hoặc tài liệu kèm theo tác phẩm, phù hợp với đặc thù của từng loại hình. Việc thông báo và gắn nhãn phải bảo đảm người tiếp nhận có thể nhận biết rõ ràng nội dung được tạo ra hoặc được chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo, không gây nhầm lẫn về nguồn gốc của nội dung.
Trường hợp nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc chỉnh sửa trong quá trình sản xuất, bên thực hiện việc tạo ra hoặc chỉnh sửa nội dung có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết để thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản này; bên trung tiếp đưa nội dung ra cộng đồng thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở thông tin được cung cấp.
7. Bộ Khoa học và Công nghệ công bố và cập nhật tiêu chuẩn kỹ thuật tham chiếu về hình thức thông báo và gắn nhãn hiển thị quy định tại Điều này. Việc công bố quy định tại khoản này không làm phát sinh thu tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc nghĩa vụ ngoài quy định của Nghị định này.
Điều 19. Báo cáo và xử lý sự cố nghiêm trọng
1. Sự cố nghiêm trọng của hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định tại khoản 8 Điều
3 của Luật Trí tuệ nhân tạo là sự kiện xảy ra trong hoạt động của hệ thống trí tuệ nhân tạo gây ra một trong các hậu quả sau đây:
a) Thiệt hại về tính mạng hoặc tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của con người;
b) Thiệt hại đáng kể về tài sản hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của tổ chức;
c) Xâm phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Gây gián đoạn nghiêm trọng việc cung cấp dịch vụ công, dịch vụ thiết yếu theo quy định của pháp luật hoặc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Khi xảy ra sự cố nghiêm trọng của hệ thống trí tuệ nhân tạo, các chủ thể có trách nhiệm sau đây:
a) Bên triển khai và người sử dụng phải kịp thời ghi nhận sự cố, thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế hậu quả và thông báo cho nhà cung cấp để phối hợp khắc phục;
b) Nhà cung cấp phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả của sự cố;
c) Nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin và thực hiện các biện pháp cần thiết để xử lý sự cố theo quy định của pháp luật.
3. Nhà cung cấp hoặc bên triển khai phải báo cáo sơ bộ sự cố nghiêm trọng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Mẫu A101a đối với tổ chức hoặc Mẫu A101b đối với cá nhân tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này thông qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo trong thời hạn như sau:
a) Đối với các sự cố nghiêm trọng có tính khẩn cấp quy định tại điểm a, điểm d khoản 1 Điều này và trường hợp không thể kiểm soát đối với quy định tại điểm c khoản 1 Điều này: thực hiện báo cáo sơ bộ trong thời hạn 72 giờ kể từ thời điểm xác nhận sự cố;
b) Đối với các sự cố nghiêm trọng còn lại: thực hiện báo cáo sơ bộ trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ thời điểm xác nhận sự cố;
c) Thời điểm xác nhận sự cố quy định tại khoản này được tính từ khi tổ chức, cá nhân có đủ cơ sở thông tin ban đầu để xác định sự cố đã thực sự xảy ra và có khả năng cao bắt nguồn từ lỗi của hệ thống trí tuệ nhân tạo, không giới đến khi hoàn thành điều tra toàn diện nguyên nhân kỹ thuật. Việc nộp báo cáo sơ bộ trong thời hạn quy định không bị coi là sự thừa nhận lỗi kỹ thuật hoặc trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân báo cáo.
Trường hợp bên triển khai không thể liên lạc với nhà cung cấp, bên triển khai có trách nhiệm thực hiện việc báo cáo theo quy định tại khoản này.
4. Nhà cung cấp và bên triển khai phải duy trì, lưu giữ nhật ký hệ thống, dữ liệu và thông tin liên quan đến sự cố để phục vụ việc xác minh, đánh giá và khắc phục sự cố; đồng thời gửi báo cáo chính thức về kết quả khắc phục sự cố cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nộp báo cáo sơ bộ.
5. Trường hợp sự cố nghiêm trọng đồng thời thuộc trường hợp phải báo cáo theo quy định của pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc pháp luật chuyên ngành khác, việc báo cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật đó.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ thông tin và không yêu cầu cung cấp lại thông tin, tài liệu đã có trong hệ thống thông tin hoặc cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ theo quy định của pháp luật, các hệ thống trí tuệ nhân tạo, cơ sở dữ liệu quy định tại điểm d khoản 3 Điều 4 Nghị định này.
6. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận báo cáo, tổ chức xác minh và hướng dẫn xử lý sự cố nghiêm trọng; khi cần thiết, có quyền yêu cầu tạm dừng hoạt động, thu hồi hoặc đánh giá lại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật Trí tuệ nhân tạo.
7. Trường hợp sự cố có dấu hiệu ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan có liên quan để thực hiện việc xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
8. Việc báo cáo và tiếp nhận báo cáo sự cố nghiêm trọng được thực hiện thông qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
Điều 20. Đánh giá tác động khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong cơ quan nhà nước
1. Cơ quan nhà nước thực hiện đánh giá tác động đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hệ thống thuộc nhóm hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao theo quy định của Luật;
b) Hệ thống trí tuệ nhân tạo quy định tại khoản 7 Điều này mà kết quả của hệ thống được sử dụng làm căn cứ trực tiếp để người có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành quyết định hành chính.
2. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo quy định tại khoản 1 Điều này có thay đổi về mục đích sử dụng, chức năng chính, nguồn dữ liệu đầu vào chủ yếu hoặc phạm vi đối tượng áp dụng làm phát sinh rủi ro mới hoặc làm thay đổi mức độ rủi ro của hệ thống, cơ quan, đơn vị triển khai phải thực hiện đánh giá tác động bổ sung trước khi tiếp tục sử dụng hệ thống.
3. Cơ quan, đơn vị triển khai phải lập báo cáo đánh giá tác động theo Mẫu A102 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. Báo cáo đánh giá tác động phải đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Trí tuệ nhân tạo và bao gồm các nội dung sau đây:
a) Thông tin mô tả hệ thống trí tuệ nhân tạo và mục đích sử dụng;
b) Nhận diện và đánh giá rủi ro;
c) Biện pháp kiểm soát và giảm thiểu rủi ro;
d) Cơ chế bảo đảm khả năng giám sát và can thiệp của con người trong quá trình vận hành hệ thống.
4. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị triển khai có trách nhiệm tổ chức lập, phê duyệt
báo cáo đánh giá tác động trước khi đưa hệ thống trí tuệ nhân tạo vào sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung, tính trung thực và đầy đủ của báo cáo.
5. Cơ quan, đơn vị triển khai phải công khai báo cáo đánh giá tác động theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật Trí tuệ nhân tạo, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh hoặc dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.
6. Việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong cơ quan nhà nước phải tuân thủ Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia và không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm quyết định của người có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 27 Luật Trí tuệ nhân tạo.
7. Hệ thống trí tuệ nhân tạo do cơ quan nhà nước triển khai được xác định là có liên quan đến quyền con người, công bằng xã hội hoặc lợi ích công cộng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Kết quả của hệ thống được sử dụng làm căn cứ trong quá trình xem xét, quyết định trong hoạt động quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công;
b) Được sử dụng để phân loại, chấm điểm, đánh giá hoặc xếp hạng tổ chức, cá nhân;
c) Được sử dụng để phân bổ ngân sách, nguồn lực công hoặc xác định mức hưởng, đối tượng thụ hưởng chính sách, chế độ;
d) Được sử dụng để phát hiện, lựa chọn, sàng lọc hoặc giám sát tổ chức, cá nhân phục vụ hoạt động quản lý nhà nước.
8. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thực hiện đánh giá tác động đối với việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong cơ quan nhà nước; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi cần thiết.
9. Kinh phí thực hiện đánh giá tác động được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách, nguồn thu hợp pháp của đơn vị sự nghiệp công lập và nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Chương IV
CƠ CHẾ THỬ NGHIỆM CÓ KIỂM SOÁT
Điều 21. Nguyên tắc thực hiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Việc thực hiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo được áp dụng theo quy định tại Điều 21 của Luật Trí tuệ nhân tạo, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các quy định tại Nghị định này.
2. Việc tham gia cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo được thực hiện trên cơ sở tự nguyện. Tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Xác định rõ và tuân thủ phạm vi, quy mô, đối tượng, thời hạn, điều kiện thử nghiệm và các biện pháp quản lý rủi ro theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
b) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm;
c) Bảo đảm minh bạch thông tin đối với người tham gia thử nghiệm về mục tiêu, phạm vi, điều kiện và các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thử nghiệm;
d) Tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và pháp luật có liên quan;
đ) Chịu sự theo dõi, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong suốt quá trình thử nghiệm.
3. Hoạt động nghiên cứu, phát triển hoặc thử nghiệm hệ thống trí tuệ nhân tạo trong môi trường mô phỏng, môi trường khép kín hoặc thử nghiệm nội bộ không có người tham gia thử nghiệm thực tế và không tạo tác động ra bên ngoài tổ chức không thuộc phạm vi áp dụng của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát quy định tại Nghị định này.
4. Tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm có trách nhiệm:
a) Xây dựng và thực hiện phương án quản lý rủi ro;
b) Công bố các rủi ro có thể phát sinh và thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý khiếu nại của người tham gia thử nghiệm.
5. Kết quả hoàn thành thử nghiệm có kiểm soát là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định:
a) Công nhận toàn bộ hoặc một phần kết quả thử nghiệm phục vụ việc đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo;
b) Miễn, giảm hoặc điều chỉnh việc áp dụng nghĩa vụ tuân thủ theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
6. Tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm được miễn, loại trừ và phải chịu trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính phát sinh trong quá trình thử nghiệm theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
7. Trong phạm vi, thời gian và điều kiện thử nghiệm được ghi nhận tại Giấy xác nhận tham gia thử nghiệm, tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm có thể được áp dụng các cơ chế hỗ trợ sau đây theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
a) Áp dụng biện pháp thông báo hoặc minh bạch thay thế đối với một số nghĩa vụ về phân loại rủi ro, đánh dấu kỹ thuật hoặc gắn nhãn hiển thị theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo nếu bảo đảm người tham gia thử nghiệm được thông tin đầy đủ, rõ ràng;
b) Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc diện phải đánh giá sự phù hợp theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo, việc đánh giá sự phù hợp có thể được thực hiện sau khi hoàn thành giai đoạn thử nghiệm;
c) Ưu tiên tiếp cận các chương trình hỗ trợ, nguồn lực và chính sách hỗ trợ phát triển trí tuệ nhân tạo theo quy định của pháp luật.
8. Trường hợp pháp luật chuyên ngành đã có quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành thì việc thử nghiệm hệ thống trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực đó được thực hiện theo cơ chế thử nghiệm của pháp luật chuyên ngành. Cơ quan quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc đánh giá, giám sát và quản lý rủi ro đối với thành phần trí tuệ nhân tạo