Người ký: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Email: [email protected]
Cơ quan: VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
Thời gian ký: 03.04.2026 17:11:40 +07:00
|
CHÍNH PHỦ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 100/2026/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 31 tháng 3 năm 2026
NGHỊ ĐỊNH
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP
ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và
biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà
nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP
ngày 14 tháng 01 năm 2026 và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP
ngày 21 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm:
a) Khoản 2 Điều 1 về việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu công nghiệp trong trường hợp đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo;
b) Khoản 3 Điều 1 về việc chấm dứt hưởng quyền sở hữu trí tuệ trong trường hợp đối tượng mà có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập;
c) Khoản 5 Điều 1 về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ;
d) Khoản 6 Điều 1 về chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ;
2
d) Khoản 24 Điều 1 về kiểm soát an ninh đối với sáng chế trước khi nộp đơn đăng ký ở nước ngoài;
e) Khoản 33 Điều 1 về đơn đăng ký đối với sáng chế mật;
g) Khoản 44 Điều 1 về thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu;
h) Khoản 53 Điều 1 về hồ sơ đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
i) Khoản 54 Điều 1 về kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp, cấp, cấp lại Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;
k) Khoản 55 Điều 1 về trình tự, thủ tục ghi nhận, xoá tên đại diện sở hữu công nghiệp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;
l) Khoản 66 Điều 1 về tổ chức và hoạt động giám định về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng;
m) Khoản 67 Điều 1 về việc tiêu huỷ hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.
2. Quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về:
a) Bảo đảm kinh phí và các nguồn lực cần thiết khác cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 11a của Luật Sở hữu trí tuệ;
b) Các nội dung khác bao gồm: quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, quản lý chỉ dẫn địa lý, thủ tục hành chính về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Điều 2. Bổ sung khoản 1a vào trước khoản 1 và sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1
“1a. Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sở hữu công nghiệp.
1. Việc xác lập, chủ thể, nội dung, giới hạn quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, đại diện sở hữu công nghiệp.”.
Điều 3. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số khoản của Điều 3
1. Bổ sung các khoản 2a và 2b vào sau khoản 2 như sau:
“2a. “Phó bản văn bằng bảo hộ” là bản phụ văn bằng bảo hộ được cấp cho người thứ hai trở đi trong danh sách những người nộp đơn chung, trong đó thể hiện đầy đủ thông tin của văn bằng bảo hộ và kèm theo chỉ dẫn “Phó bản”.
2b. “Phó bản Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp” là bản phụ Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được cấp cho bên còn lại trong Hợp đồng, thể hiện đầy đủ thông tin của Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp và kèm theo chỉ dẫn “Phó bản”.“.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 26 và bổ sung khoản 27 vào sau khoản 26 như sau:
“26. “Luật Sở hữu trí tuệ” là Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, được sửa đổi, bổ sung bởi các Luật số 36/2009/QH12, 42/2019/QH14, 07/2022/QH15, 93/2025/QH15 và 131/2025/QH15.
27. Cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 200 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm Tòa án, Hải quan, Công an nhân dân, Quản lý thị trường, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ mà Thủ trưởng hoặc một số chức danh khác thuộc cơ quan đó có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”.
3. Bãi bỏ các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18.
Điều 4. Sửa đổi, bổ sung điểm e, khoản 1 Điều 5
“e) Xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng số dùng chung phục vụ quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thông tin về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ; thiết lập mạng lưới kết nối, chia sẻ và tích hợp dữ liệu với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và các cơ quan, tổ chức liên quan.”.
Điều 5. Bổ sung Điều 5a vào sau Điều 5
“Điều 5a. Bảo đảm kinh phí và các nguồn lực cần thiết khác cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Nhà nước bảo đảm kinh phí và các nguồn lực cần thiết cho tổ chức hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, trong đó bao gồm:
1. Kinh phí quản lý hành chính hằng năm giao thực hiện chế độ tự chủ. Đối với tổ chức hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ chưa được cấp có thẩm quyền giao hoặc chưa được giao đủ biên chế thì kinh phí hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ được xác định theo số lượng người làm việc thực tế tại thời điểm xây dựng dự toán ngân sách hoặc theo biên chế và người lao động có mặt thực tế tại thời điểm xây dựng dự toán ngân sách hằng năm.
2. Kinh phí quản lý hành chính thường xuyên ngoài định mức cho hoạt động xử lý đơn sở hữu công nghiệp được bố trí trong dự toán chi ngân sách để thực hiện tương ứng từ khoản thu phí sở hữu công nghiệp hàng năm. Kinh phí theo quy định tại khoản này bao gồm kinh phí chi tiền công thanh toán cho cá nhân thực hiện hoạt động xử lý đơn sở hữu công nghiệp; chi duy trì vận hành, nâng cấp thường xuyên hệ thống công nghệ thông tin, công cụ tra cứu, cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp; mua sắm vật tư, nguyên liệu phục vụ xử lý đơn sở hữu công nghiệp; thuê, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên tài sản, máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động xử lý đơn sở hữu công nghiệp; chi phí phục vụ cho việc thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí sở hữu công nghiệp và các khoản chi khác liên quan.
3. Kinh phí cấp bổ sung ngoài định mức hằng năm cho hoạt động trong khuôn khổ các Ủy ban, tiểu ban, nhóm công tác theo các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ hoặc có nội dung về sở hữu trí tuệ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hợp tác quốc tế về xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp; hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
4. Được cấp có thẩm quyền giao biên chế công chức, viên chức để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ phù hợp với điều kiện đặc thù của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
5. Tổ chức hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng kinh phí theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2013. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật dẫn chiếu để áp dụng tại khoản này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo quy định tại văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.”.
Điều 6. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 6
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Tổ chức thực hiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp, đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và thực hiện các thủ tục được giao liên quan đến văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.”.
2. Bổ sung khoản 6a vào sau khoản 6 như sau:
“6a. Xây dựng và tổ chức quản lý việc sử dụng biểu trưng chỉ dẫn địa lý quốc gia Việt Nam”.
3. Sửa đổi, bổ sung các khoản 8, 9 và 10 như sau:
“8. Quản lý hoạt động giám định sở hữu công nghiệp.
9. Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu công nghiệp; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp.
10. Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu công nghiệp; quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp.”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 12 như sau:
“12. Quản lý hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp.”.
Điều 7. Bổ sung điểm d1 vào sau điểm d, khoản 1 Điều 9
“d1) Tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính và các hoạt động khác về sở hữu công nghiệp được giao theo quy định của pháp luật;”.
Điều 8. Bổ sung Điều 9a vào sau Điều 9
“Điều 9a. Quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện lập, lưu giữ Danh mục quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để sử dụng cho các mục đích quản trị nội bộ sau đây:
a) Quản lý, theo dõi tình trạng pháp lý của các quyền sở hữu trí tuệ;
b) Làm căn cứ để thực hiện định giá, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại và các mục đích hợp pháp khác;
c) Thông tin để minh chứng nguồn lực, uy tín, tiềm năng của doanh nghiệp đối với đối tác, nhà đầu tư;
d) Xây dựng chiến lược về việc khai thác quyền sở hữu trí tuệ;
đ) Các hoạt động khác mà luật không cấm.
2. Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này được lập dưới hình thức bản giấy hoặc bản điện tử, bao gồm các thông tin cơ bản sau:
a) Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;
b) Tình trạng pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ (căn cứ phát sinh, xác lập quyền), thời hạn bảo hộ; các thời điểm phải thực hiện nghĩa vụ về phí, lệ phí (nếu có), v.v...;
c) Thông tin về tác giả, đồng tác giả;
d) Nguồn gốc hình thành (tự tạo ra, kế thừa, được tặng cho, v.v...);
d) Chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra, đăng ký, xác lập quyền;
e) Tình trạng sử dụng, khai thác (tự khai thác, chuyển quyền sử dụng, v.v…); giá trị thu được từ việc sử dụng, khai thác (nếu có).
g) Giá trị ước tính (do tổ chức, chuyên gia định giá đưa ra hoặc tự ước tính nội bộ) (nếu có).
3. Việc lập Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này không thay thế cho các nghĩa vụ ghi nhận, trình bày báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán.
4. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện rà soát, cập nhật Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này hằng năm hoặc khi phát sinh thay đổi về tình trạng pháp lý, giá trị của quyền sở hữu trí tuệ.
5. Các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình triển khai các hoạt động để khuyến khích tổ chức, cá nhân có liên quan khai thác quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật, thực hiện hỗ trợ xác định giá trị đối với các quyền sở hữu trí tuệ tạo ra từ ngân sách nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghệ chiến lược, công nghệ cao, công nghệ xanh và quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với chiến lược phát triển ngành, địa phương; thúc đẩy hình thành và phát triển các tổ chức trung gian hỗ trợ cho hoạt động phát triển, khai thác, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ.”.
Điều 9. Bổ sung Điều 9b vào sau Điều 9a
“Điều 9b. Cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp
1. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp, xây dựng các công cụ phân loại, tra cứu, hướng dẫn cách tra cứu và sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp; tổ chức việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, bảo đảm khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu cho các đối tượng có nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin phục vụ các hoạt động xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, nghiên cứu, phát triển và kinh doanh; quản lý và tổ chức thực hiện việc chia sẻ, kết nối, khai thác, hợp tác quốc tế và các hoạt động khác liên quan đến cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp.
2. Cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp bao gồm thông tin thư mục và thông tin toàn văn (nếu có), được tập hợp một cách chọn lọc, có hệ thống, phù hợp với các mục đích tra cứu, liên quan đến:
a) Các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp;
b) Các văn bằng bảo hộ đã được cấp và các quyền sở hữu công nghiệp đã được thừa nhận hoặc chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam.
3. Hạ tầng lưu trữ cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp và việc thực hiện các hoạt động theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo mật thông tin, tiếp cận thông tin, an toàn thông tin mạng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
Điều 10. Bổ sung Điều 9c vào sau Điều 9b
“Điều 9c. Hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý
1. Hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý là hệ thống thông tin được xây dựng nhằm quản lý, theo dõi, cập nhật và khai thác thông tin liên quan đến việc quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm xây dựng, quản lý hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về đăng ký sở hữu công nghiệp và các hệ thống có liên quan.
3. Hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý bao gồm các thông tin sau:
a) Thông tin về chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ, phạm vi bảo hộ, tình trạng hiệu lực;
b) Thông tin về tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý;
c) Thông tin về quy chế quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý;
d) Thông tin về hoạt động kiểm soát việc sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định;
đ) Thông tin khác phục vụ công tác quản lý chỉ dẫn địa lý.
4. Tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý có trách nhiệm cập nhật thông tin liên quan đến quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý vào hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý. Việc khai thác, sử dụng thông tin trong hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền; bảo đảm tính chính xác, kịp thời, an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ hoặc thẩm quyền ngoài quy định của pháp luật.”.
Điều 11. Bổ sung Điều 9d vào sau Điều 9c
“Điều 9d. Cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ
1. Cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ là hệ thống tập trung liên thông ở phạm vi toàn quốc về giá trị các giao dịch hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển quyền
8
sử dụng, thế chấp, góp vốn và các hình thức khai thác thương mại khác. Cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các thông tin cơ bản sau:
a) Loại đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;
b) Thông tin về các bên giao dịch;
c) Loại giao dịch (chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng, thế chấp, góp vốn, v.v…);
d) Giá giao dịch;
đ) Thời điểm giao dịch;
e) Tình trạng pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ;
g) Các thông tin tham chiếu khác phục vụ định giá và khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì và phát triển cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ.
3. Việc cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ thuộc trách nhiệm của các cơ quan sau tương ứng với phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan đó:
a) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm cập nhật thông tin liên quan quy định tại khoản 1 Điều này phát sinh trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền;
b) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm cập nhật thông tin liên quan liên quan quy định tại khoản 1 Điều này phát sinh trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền;
c) Cơ quan quản lý nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm cập nhật các thông tin liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều này đối với trường hợp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước. Việc cập nhật phải được thực hiện tối thiểu định kỳ trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm nhiệm vụ được đánh giá cuối kỳ và tiếp tục cập nhật định kỳ hằng năm.
4. Hạ tầng lưu trữ cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và việc thực hiện các hoạt động theo quy định tại Điều này phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo mật thông tin, tiếp cận thông tin, an toàn thông tin mạng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Điều 12. Bổ sung Điều 9d vào sau Điều 9d
“Điều 9d. Tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
1. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, đầu tư, xây dựng và triển khai hệ thống tự động hóa quy trình, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm soát, phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm các mục tiêu sau:
a) Phát hiện, giám sát và theo dõi tự động hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng thông qua việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ phân tích dữ liệu lớn và phân tích hành vi;
b) Xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo thẩm quyền, bao gồm việc yêu cầu gỡ bỏ nội dung xâm phạm, tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động của tài khoản xâm phạm và phối hợp xử lý các vụ việc có yếu tố nước ngoài thông qua các cơ chế hợp tác, kết nối quốc tế theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
c) Phân quyền truy cập, lưu nhật ký thao tác, kiểm tra định kỳ chất lượng hệ thống để tránh sai lệch hoặc tránh bị can thiệp.
2. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tăng cường đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
3. Phạm vi tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm tiếp nhận, phân loại thông tin, vụ việc; đối chiếu dữ liệu quyền sở hữu trí tuệ trong cơ sở dữ liệu; cảnh báo, thống kê, báo cáo; hỗ trợ trích xuất dữ liệu phục vụ kiểm tra, xử lý và các hoạt động khác có liên quan.
4. Kết quả hoạt động tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là dữ liệu hoặc khuyến nghị nghiệp vụ, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hoặc người có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ”.
Điều 13. Bổ sung Điều 9e vào sau Điều 9d
“Điều 9e. Cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
1. Cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm dữ liệu về các vụ tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được xử lý, loại đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, kết quả xử lý, tình trạng thi hành kết quả xử lý, các thông tin liên quan trong quá trình xử lý (nếu có) và thông tin của các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
2. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung nhằm thu thập, chuẩn hóa, quản lý và khai thác thông tin phục vụ công tác theo dõi, hỗ trợ và phối hợp thực hiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền và phải đảm bảo tuân thủ các quy định sau đây:
a) Việc quản lý, khai thác và sử dụng thông tin phải tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật liên quan khác;
b) Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, liên thông giữa các cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;
c) Lấy dữ liệu số làm nền tảng, ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả, minh bạch và khả năng truy vết trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;
d) Thông tin chi được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ khi đã kiểm tra, bảo đảm tính xác thực, hợp pháp và chính xác;
đ) Các thông tin đã được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải được lưu trữ đầy đủ, thể hiện được nội dung, lý do, cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thực hiện cập nhật, thay đổi, điều chỉnh.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm:
a) Xây dựng, cập nhật, cung cấp, kết nối, chia sẻ thông tin về các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được xử lý theo quy định với các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật, bảo đảm đúng mục đích, đúng thẩm quyền và an toàn thông tin.
b) Hướng dẫn việc quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong phạm vi quản lý;
c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá, kiểm tra việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tham mưu người đứng đầu giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu.
4. Hạ tầng lưu trữ cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và việc thực hiện các hoạt động theo quy định tại Điều này phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo mật thông tin, tiếp cận thông tin, an toàn thông tin mạng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 14. Bổ sung Điều 9g vào sau Điều 9e
“Điều 9g. Chấm dứt việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ
1. Một đối tượng có nhiều quyền sở hữu trí tuệ được xác lập hoặc phát sinh theo quy định tại Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ là trường hợp một đối tượng là kết quả của hoạt động sáng tạo đồng thời đáp ứng điều kiện để được bảo hộ bởi nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ khác nhau theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau (sau đây gọi là “quyền sở hữu trí tuệ có sau”) đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được coi là mâu thuẫn với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ của người khác đã phát sinh trước hoặc được xác lập trước (sau đây gọi là “quyền sở hữu trí tuệ có trước”) trong các trường hợp sau đây:
a) Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau làm giảm đáng kể giá trị kinh tế hoặc khả năng khai thác thương mại của quyền sở hữu trí tuệ có trước;
b) Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc, chất lượng hàng hóa, dịch vụ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có trước;
c) Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau ngăn cản hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có trước thực hiện các quyền tài sản hợp pháp;
d) Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau ảnh hưởng đến quyền nhân thân của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có trước (trường hợp quyền sở hữu trí tuệ có trước bao gồm quyền nhân thân).
3. Sự mâu thuẫn giữa việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ có trước quy định tại khoản 2 Điều này phải được chứng minh bằng chứng cứ cụ thể.
4. Trường hợp có mâu thuẫn giữa việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ có trước quy định tại khoản 2 Điều này thì xử lý dựa trên các nguyên tắc sau đây:
a) Quyền sở hữu trí tuệ có sau chỉ bị buộc chấm dứt thực hiện ở mức độ cần thiết để loại bỏ mâu thuẫn, không được làm ảnh hưởng đến các phần không mâu thuẫn (nếu có);
b) Việc chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có sau không làm chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ (nếu có), mà chỉ hạn chế việc thực hiện quyền trong phạm vi mâu thuẫn;
c) Việc chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều này chỉ thực hiện trong thời hạn bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ có trước.
12
5. Thẩm quyền quyết định việc chấm dứt thực hiện quyền, thủ tục yêu cầu chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng.
6. Việc thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án buộc chấm dứt quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật Sở hữu trí tuệ cũng được xem là thực hiện biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.”.
Điều 15. Bổ sung Điều 10a vào sau Điều 10
“Điều 10a. Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí do con người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra chỉ được xác lập theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ nếu con người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra các đối tượng đó.
Người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra các đối tượng đó thì được coi là tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật Sở hữu trí tuệ.
2. Con người được coi là có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong trường hợp con người thực hiện toàn bộ các hoạt động sau:
a) Xác định vấn đề cần giải quyết, trong đó phải bao hàm cả ý tưởng về giải pháp, không chỉ là mô tả vấn đề chung chung;
b) Lựa chọn dữ liệu đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, tham số từ ý tưởng sáng tạo của con người, không chỉ dựa trên dữ liệu sẵn có hoặc gợi ý tự động từ hệ thống trí tuệ nhân tạo;
c) Đánh giá, lựa chọn, tinh chỉnh, thử nghiệm (nếu có) và diễn giải kết quả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra, trong đó việc tinh chỉnh phải làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng cốt lõi của kết quả hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra giá trị mới;
d) Quyết định kết quả cuối cùng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí yêu cầu được bảo hộ.
3. Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo không đáp ứng quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, người tạo ra có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đó với điều kiện không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.
Điều 16. Sửa đổi, bổ sung Điều 14
“Điều 14. Thủ tục kiểm soát an ninh đối với sáng chế
1. Sáng chế thuộc danh mục bí mật nhà nước trong các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh, được tạo ra tại Việt Nam và thuộc quyền đăng ký của cá nhân là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam hoặc của tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam chỉ được nộp đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài nếu đã được Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ định cơ quan tiếp nhận và xử lý đề nghị cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Đối với sáng chế quy định tại khoản 1 Điều này, cá nhân, tổ chức nộp đơn đề nghị cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài theo quy định sau đây:
a) Cá nhân, tổ chức nộp đơn đề nghị bằng văn bản trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoặc qua dịch vụ bưu chính. Đơn bao gồm 01 bộ tài liệu sau đây:
a1) Tờ khai đề nghị cho phép đăng ký sáng chế ra nước ngoài theo Mẫu số 25 tại Phụ lục I của Nghị định này;
a2) Bản mô tả sáng chế dự định đăng ký ở nước ngoài;
a3) Văn bản xác định sáng chế thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
a4) Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực văn bản ủy quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
a5) Các tài liệu khác để bổ trợ cho hồ sơ đơn (nếu có).
b) Trường hợp đơn hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp nhận và cấp Giấy tiếp nhận đơn cho người nộp, trong đó ghi rõ ngày tiếp nhận, danh mục tài liệu trong đơn và họ tên, chữ ký của cán bộ nhận đơn.
Trường hợp đơn thiếu một trong các tài liệu quy định tại điểm a khoản này thì cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an từ chối tiếp nhận hoặc gửi thông báo từ chối tiếp nhận bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức nếu đơn được nộp qua dịch vụ bưu chính, trong đó nêu rõ lý do từ chối.
c) Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thẩm định đơn trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận.
c1) Trường hợp đơn có thiếu sót hoặc thông tin trong đơn chưa đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thông báo bằng văn bản trong đó yêu cầu người nộp đơn sửa đổi, bổ sung hoặc làm rõ thông tin nêu trong đơn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo. Hết thời hạn này, nếu người nộp đơn không có ý kiến hoặc có ý kiến nhưng không xác đáng, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ra quyết định từ chối xem xét đề nghị cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn ấn định.
Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có thể lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế trong quá trình thẩm định, nếu cần thiết;
c2) Trường hợp đơn hợp lệ, trên cơ sở đánh giá rủi ro về quốc phòng, an ninh, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ban hành quyết định cho phép hoặc từ chối cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài (trong đó nêu rõ lý do từ chối). Quyết định cho phép đăng ký sáng chế ra nước ngoài có thể kèm theo các điều kiện nhằm bảo vệ bí mật nhà nước, bao gồm cả việc hạn chế phạm vi nộp đơn.”.
Điều 17. Bổ sung Điều 14a vào sau Điều 14
“Điều 14a. Thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu
1. Đơn đăng ký sáng chế được thẩm định nội dung nhanh trong thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:
a) Sáng chế nêu trong đơn đăng ký thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác cho các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh;
b) Sáng chế là đối tượng nêu trong đơn đăng ký đã được khai thác thương mại;
c) Đơn đăng ký sáng chế có yêu cầu công bố sớm được nộp tại thời điểm nộp đơn;
15
d) Đơn đăng ký sáng chế có không quá 10 điểm yêu cầu bảo hộ, trong đó có không quá 02 điểm độc lập;
đ) Đơn đăng ký sáng chế không phải là đơn tách hoặc đơn chuyển đổi;
e) Nộp phí thẩm định nội dung nhanh theo quy định.
2. Đơn đăng ký nhãn hiệu được thẩm định nội dung nhanh trong thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:
a) Đơn đăng ký nhãn hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a1) Nhãn hiệu được sử dụng cho hàng hóa được sản xuất theo sáng chế thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác cho các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh;
a2) Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là một trong những tài liệu hoặc điều kiện bắt buộc mà người nộp đơn phải có khi thực hiện thủ tục đăng ký hoặc xin cấp phép để được tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định pháp luật.
b) Đơn đăng ký nhãn hiệu là đơn được nộp trực tiếp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp (không phải là đơn quốc tế theo quy định tại Điều 120 của Luật Sở hữu trí tuệ);
c) Nhãn hiệu nêu trong đơn đăng ký không phải là nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu ba chiều hoặc nhãn hiệu âm thanh;
d) Trường hợp đơn đăng ký nhãn hiệu cho nhiều hàng hóa, dịch vụ thì điều kiện nêu tại điểm a trên đây phải đáp ứng đối với tất cả các hàng hóa, dịch vụ nêu trong đơn;
đ) Nộp phí thẩm định nội dung nhanh theo quy định.
3. Yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu phải được làm bằng văn bản theo mẫu quy định và phải được nộp đồng thời tại thời điểm nộp đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu đó.
4. Đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh được tiếp tục xử lý theo các thời hạn quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu thẩm định nội dung nhanh không đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này;
16
b) Phát sinh tranh chấp, khiếu nại hoặc có ý kiến phản đối theo quy định tại Điều 112a của Luật Sở hữu trí tuệ đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh;
c) Dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu được yêu cầu thẩm định nhanh trùng hoặc tương tự với dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu của người khác có ngày nộp đơn sớm hơn trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên mà đơn đó chưa được xử lý xong;
d) Người nộp đơn chủ động sửa đổi, bổ sung đơn hoặc tách đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu sau khi có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh.
5. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định mẫu đơn yêu cầu thẩm định nội dung nhanh và quy định chi tiết việc tiếp nhận, xử lý yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu.”.
Điều 18. Bổ sung Điều 15a vào sau Điều 15
“Điều 15a. Cách thức tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính, ủy quyền đại diện tiến hành thủ tục hành chính
1. Việc nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính quy định tại Nghị định này thực hiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính được ký số, phát hành theo quy định của pháp luật về công tác văn thư để trả bản điện tử cho tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp bản chuyển đổi từ bản điện tử.
Mẫu văn bằng bảo hộ đối với các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp là kết quả giải quyết thủ tục hành chính được quy định tại Mẫu số 38, 39, 40, 41 và 42 tại Phụ lục I của Nghị định này.
3. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản điện tử của cơ quan có thẩm quyền có giá trị pháp lý như kết quả giải quyết thủ tục hành chính bằng văn bản giấy.
4. Việc ủy quyền đại diện thực hiện các thủ tục hành chính, khiếu nại; việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với kết quả giải quyết thủ tục về sở hữu công nghiệp quy định tại Nghị định này được thực hiện theo hướng dẫn về ủy quyền, quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
Điều 19. Sửa đổi, bổ sung Điều 29
“Điều 29. Cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ
17
1. Chủ văn bằng bảo hộ yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp phó bản văn bằng bảo hộ và cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu chung, văn bằng bảo hộ sẽ chỉ được cấp, cấp lại cho người đầu tiên trong danh sách những người nộp đơn chung. Các đồng chủ sở hữu quyền khác có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp phó bản văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp yêu cầu cấp phó bản đã được thể hiện trong tờ khai đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp, với điều kiện phải nộp phí, lệ phí theo quy định.
b) Trường hợp văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ bị mất hoặc bị hỏng, rách, bẩn, phai mờ đến mức không sử dụng được, bị tháo rời không giữ được dấu niêm phong, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ có thể nộp đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ, với điều kiện phải nộp phí, lệ phí theo quy định.
c) Trường hợp phát hiện mẫu nhãn hiệu trong Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có chứa hình bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền, biên giới quốc gia theo quy định của pháp luật về việc sử dụng hình bản đồ Việt Nam, chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ để bảo đảm thể hiện đúng chủ quyền biên giới quốc gia theo quy định của pháp luật mà không phải nộp phí, lệ phí.
Trường hợp phát hiện mẫu nhãn hiệu trong Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có chứa hình bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền biên giới quốc gia theo quy định của pháp luật về việc sử dụng hình bản đồ Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương yêu cầu chủ văn bằng bảo hộ bổ sung mẫu nhãn hiệu mới để cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ để bảo đảm thể hiện đúng hình bản đồ Việt Nam mà không thu phí, lệ phí.
2. Đơn yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ phải được lập thành văn bản, bao gồm 01 bộ tài liệu sau đây:
a) Tờ khai yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ, làm theo Mẫu số 13 tại Phụ lục I của Nghị định này;
b) Mẫu nhãn hiệu, bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ kiểu dáng công nghiệp tương tự mẫu nhãn hiệu, bộ ảnh chụp hoặc bản vẽ kiểu dáng công nghiệp trong văn bằng bảo hộ gốc theo tiêu chí, tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định (trường hợp nộp hồ sơ giấy thì phải nộp 02 mẫu nhãn hiệu);
c) Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực văn bản uỷ quyền (trường hợp yêu cầu được nộp thông qua đại diện). Trường hợp văn bản uỷ quyền có phạm vi uỷ quyền gồm nhiều thủ tục độc lập với nhau và bản gốc văn bản uỷ quyền đã nộp cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thực hiện thủ tục đăng ký, người nộp đơn được nộp bản sao văn bản uỷ quyền kèm theo thông tin chỉ dẫn chính xác đến số đơn có bản gốc văn bản uỷ quyền đó trong Tờ khai;
d) Bản sao chụp chứng từ hoặc bằng chứng khác về việc nộp phí, lệ phí (trường hợp nộp phí, lệ phí trực tiếp vào tài khoản của cơ quan tiếp nhận đơn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (phí, lệ phí yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ) và cơ quan thực hiện việc công bố, đăng bạ thuộc cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp (phí công bố, đăng bạ thông tin sở hữu công nghiệp)).
3. Đơn yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ bị coi là không hợp lệ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn không có đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc tài liệu không hợp lệ;
b) Người nộp đơn không nộp đủ phí, lệ phí theo quy định;
c) Tại thời điểm nộp đơn yêu cầu cấp lại, văn bằng bảo hộ không bị mất như nêu trong tờ khai;
d) Người nộp đơn yêu cầu cấp lại không phải chủ sở hữu đầu tiên trong danh sách các đồng chủ sở hữu hoặc người nộp đơn yêu cầu cấp phó bản không phải là một trong các đồng chủ sở hữu còn lại (trường hợp văn bằng bảo hộ có nhiều chủ sở hữu).
4. Xử lý yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ:
a) Trường hợp đơn hợp lệ, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cấp phó bản văn bằng bảo hộ, quyết định cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ;
b) Phó bản văn bằng bảo hộ phải thể hiện đầy đủ nội dung của văn bằng bảo hộ tương ứng và kèm theo chỉ dẫn “Phó bản”. Văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ được cấp lại phải thể hiện đầy đủ nội dung của văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ đang có hiệu lực và các thông tin sửa đổi, bổ sung liên quan đến thời điểm được cấp lại và kèm theo chỉ dẫn “Bản cấp lại”. Phó bản, bản cấp lại của văn bằng bảo hộ được làm theo các Mẫu số 19, 20, 21, 22 và 23 tại Phụ lục I của Nghị định này phù hợp với loại văn bằng bảo hộ tương ứng.
19
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi thông tin về quyết định cấp phó bản văn bằng bảo hộ, quyết định cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ đến cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp trong thời hạn 08 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông tin, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố việc cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ trên Công báo Sở hữu công nghiệp và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp theo quy định;
c) Trường hợp đơn không hợp lệ, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra thông báo và ấn định thời hạn 60 ngày kể từ ngày ra thông báo để người nộp đơn sửa chữa thiếu sót hoặc có ý kiến phản đối; thời gian này không tính vào thời hạn xử lý đơn;
d) Trường hợp người nộp đơn không sửa chữa thiếu sót hoặc không có ý kiến phản đối hoặc việc sửa chữa thiếu sót, phản đối không đạt yêu cầu, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn nêu tại điểm c khoản này, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định từ chối cấp phó bản văn bằng bảo hộ, quyết định từ chối cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ, trong đó nêu rõ lý do từ chối.
đ) Trường hợp văn bằng bảo hộ đã bị chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực hoặc hết thời hạn bảo hộ theo quy định, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thông báo chấm dứt xử lý yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ.
e) Trường hợp phát hiện người nộp đơn đồng thời đang nộp yêu cầu cấp lại, cấp phó bản đối với văn bằng bảo hộ nêu trong đơn ở cơ quan khác mà chưa có kết quả, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thông báo chấm dứt xử lý yêu cầu cấp phó bản văn bằng bảo hộ, cấp lại văn bằng bảo hộ, phó bản văn bằng bảo hộ.”.
Điều 20. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 36
“1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương xác định các loại đặc sản, các đặc tính của sản phẩm, quy trình sản xuất các đặc sản mang chỉ dẫn địa lý thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương trên cơ sở quy hoạch của địa phương.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phép sử dụng địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của đặc sản của địa phương để đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận; đăng ký hoặc tổ chức thực hiện việc đăng ký, tổ chức triển khai các biện pháp để hỗ trợ, đẩy mạnh việc đăng ký, quản lý, bảo vệ, khai thác, phát triển các chỉ dẫn địa lý dùng cho đặc sản, các sản phẩm có thế mạnh của địa phương.”.
Điều 21. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 37
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
"1. Đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, cơ quan, tổ chức có quyền quản lý chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý) quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
b) Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn, cơ quan, tổ chức khác thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phân cấp, ủy quyền hoặc giao quản lý chỉ dẫn địa lý;
c) Tổ chức được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý với điều kiện tổ chức đó đại diện cho quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật Sở hữu trí tuệ."
2. Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 như sau:
"1a. Việc xác định tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý trong trường hợp chỉ dẫn địa lý thuộc nhiều địa phương được thực hiện như sau:
a) Trường hợp khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý thuộc nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý là Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý ủy quyền đại diện thực hiện quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý với điều kiện việc quản lý được thực hiện trên cơ sở quy chế phối hợp chung do các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thống nhất ban hành.
b) Trường hợp khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý thuộc nhiều địa phương trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định việc trực tiếp quản lý hoặc phân cấp, ủy quyền, giao cho các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này quản lý chỉ dẫn địa lý; trường hợp nhiều Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc nhiều cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý thì việc quản lý phải được thực hiện trên cơ sở quy chế phối hợp chung do các Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thống nhất ban hành."