Chương trình

Về việc quản lý xe công nông tham gia giao thông đường bộ

Số hiệu: 46/2004/CT-TTg

Cơ quan ban hành
Thủ tướng Chính phủ
Ngày ban hành
9/12/2004
Ngày hiệu lực
30/12/2004
Người ký
Phan Văn Khải
Chức danh người ký
Thủ tướng
Lĩnh vực
Đường bộ
Hết hiệu lực toàn bộChương trình

Văn bản này đã hết hiệu lực

Vui lòng tra cứu văn bản thay thế trước khi áp dụng.

CHỈ THỊ

Về việc quản lý xe công nông tham gia giao thông đường bộ

_____________________

 

Hiện nay, cả nước có gần 120 nghìn xe công nông các loại (thường gọi là xe công nông đầu ngang, đầu dọc, xe tự chế...) bao gồm khoảng 66 nghìn xe máy kéo nhỏ và 54 nghìn xe lắp ráp từ các động cơ điêzen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ô tô. Trong thời gian qua, tuy xe công nông có tác dụng nhất định trong việc vận chuyển hàng hoá, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, nhưng do công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng kém và chưa được quản lý tốt nên còn nhiều xe hoạt động không có đăng ký, chưa được kiểm tra định kỳ chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; nhiều người điều khiển chưa có giấy phép lái xe nên hoạt động của xe công nông đã gây ra nhiều tai nạn giao thông, trong đó có rất nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm nhiều người chết, bị thương, gây cản trở, ùn tắc giao thông và gây lo lắng trong nhân dân.

Để quản lý có hiệu quả hoạt động của xe công nông, hạn chế tới mức thấp nhất việc gây mất trật tự, an toàn giao thông, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Các Bộ, ngành ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, trách nhiệm của mình, cần chủ động phối hợp chặt chẽ để quản lý hoạt động của xe công nông tham gia giao thông đường bộ theo chủ trương chỉ đạo sau:

a) Tăng cường công tác quản lý nhà nước; tổ chức thực hiện nghiêm túc những quy định của Luật Giao thông đường bộ đối với xe công nông tham gia giao thông đường bộ, như xe phải có đăng ký đăng kiểm, xe có kết cấu tương tự ô tô phải được kiểm tra định kỳ chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, người điều khiển phải có giấy phép lái xe.

b) Đình chỉ việc sản xuất mới các loại xe công nông (trừ xe máy kéo nhỏ). Đối với số xe đã sản xuất hiện chưa có đăng ký, phải thực hiện kiểm tra nghiêm túc nếu đạt yêu cầu về an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn hiện hành quy định cho loại xe này thì mới được đăng ký sử dụng. Đối với các xe đã được cấp đăng ký, thời hạn tối đa được tham gia giao thông đến ngày 31 tháng 12 năm 2007. Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể quy định thời hạn sớm hơn.

Các cơ quan chức năng, căn cứ các quy định hiện hành, cần có kế hoạch, giải pháp cụ thể đẩy mạnh việc sản xuất các loại ô tô tải nhẹ với giá cả phù hợp và có các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các chủ phương tiện thực hiện việc thay thế xe công nông trước thời hạn quy định.

c) Quy định rõ phạm vi hoạt động của xe công nông theo hướng :

Cấm xe công nông hoạt động ở khu vực nội thành các đô thị loại 3 trở lên, trên các đường cao tốc và trên các tuyến đường có mật độ giao thông cao. Quy định thời gian hoạt động thích hợp cho xe công nông tham gia giao thông trên các tuyến đường có mật độ giao thông cao nhưng chưa có điều kiện phân luồng sang các tuyến khác.

Tổ chức các tuyến đường dân sinh, đường gom để phân luồng cho xe công nông.

2. Bộ Giao thông vận tải :

a) Phối hợp với Bộ Công an trong việc kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật để đăng ký cấp biển số cho xe công nông theo quy định hiện hành.

b) Bổ sung, sửa đổi và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn chất lượng an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường đối với xe công nông (trừ xe máy kéo nhỏ).

c) Hướng dẫn, kiểm tra việc đào tạo người điều khiển xe công nông với các nội dung, thời gian và chi phí đào tạo thích hợp.

Tổ chức việc sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho người điều khiển xe công nông.

d) Theo dõi tình hình thực hiện quản lý hoạt động của xe công nông để chỉ đạo giải quyết kịp thời và báo cáo Thủ tướng Chính phủ giải quyết những khó khăn, vướng mắc vượt quá thẩm quyền giải quyết của các Bộ, ngành.

3. Bộ Công an:

a) Tổ chức đăng ký, cấp biển số cho xe công nông (trừ xe máy kéo nhỏ nói ở khoản b điểm 1) đã sản xuất trước ngày Chỉ thị này có hiệu lực, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.

b) Tổ chức đăng ký cấp biển số cho xe máy kéo nhỏ tham gia giao thông được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của cơ quan quản lý có thẩm quyền.

c) Thực hiện kiểm tra, kiểm soát, xử lý các vi phạm của xe công nông và người điều khiển theo quy định hiện hành.

4. Bộ Công nghiệp:

a) Chỉ đạo ngành công nghiệp ô tô bảo đảm cung cấp đủ số lượng ô tô tải nhẹ đạt các điều kiện về an toàn kỹ thuật để thay thế số xe công nông phải loại bỏ theo thời hạn nêu ở khoản b điểm 1.

b) Chỉ đạo các địa phương quản lý chặt chẽ, không để sản xuất trái phép xe công nông.

5. Uỷ ban nhân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương :

a) Chỉ đạo các Sở, Ban, ngành ở địa phương tổ chức thực hiện tốt các việc :

- Đình chỉ việc sản xuất, lắp ráp trái phép xe công nông. Hướng dẫn, giúp đỡ các cơ sở này chuyển sang sản xuất các sản phẩm phù hợp khác.

- Thống kê, kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật xe công nông để làm thủ tục đăng ký, cấp biển số theo quy định trên địa bàn tỉnh, thành phố.

ư- Tổ chức tuyên truyền, vận động chủ phương tiện và nhân dân địa phương thực hiện đúng chủ trương quản lý hoạt động xe công nông của Chính phủ.

- Kiểm tra, xử lý các vi phạm của cơ sở sản xuất, chủ xe và người điều khiển xe công nông theo quy định hiện hành.

b) Căn cứ vào điều kiện thực tế ở địa phương để quy định cụ thể phạm vi và thời gian hoạt động của xe công nông.

c) Tổ chức các tuyến đường gom, đường dân sinh để hạn chế, tiến tới cấm xe công nông hoạt động trên các tuyến đường có mật độ giao thông cao.

6. Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

7. Các Bộ: Tài chính, Văn hoá - Thông tin, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia và các cơ quan liên quan, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Công nghiệp và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị này.

8. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam phối hợp hỗ trợ các Bộ, ngành liên quan và Uỷ ban nhân dan các địa phương trong việc tuyên truyền vận động chủ phương tiện và nhân dân địa phương thực hiện nghiêm chủ trương quản lý hoạt động xe công nông của Chính phủ.

 

 

Văn bản liên quan

Khám phá thêm

Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.

Cùng lĩnh vực: Đường bộ

06/2026/QĐ-UBNDUBND tỉnh Đắk Lắk

Quy định về quản lý đường tỉnh, đường đô thị, đường xã, đường thôn và kết nối giao thông đường địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Còn hiệu lựcBan hành: 19/1/2026Quyết định
08/2026/QĐ-UBNDUBND tỉnh Đắk Lắk

Ban hành Quy định về hoạt động vận tải đường bộ trong đô thị và tỷ lệ phương tiện vận chuyển hành khách công cộng có thiết bị hỗ trợ cho người khuyết tật trong đô thị trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Còn hiệu lựcBan hành: 19/1/2026Quyết định
68/2025/TT-BXDBộ Xây dựng

Ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật công tác thu tiền sử dụng đường bộ đối với các dự án xây dựng đường bộ do Bộ Xây dựng quản lý

Còn hiệu lựcBan hành: 31/12/2025Thông tư
336/2025/NĐ-CPChính phủ

Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ.

Còn hiệu lựcBan hành: 22/12/2025Nghị định
39/2025/TT-BXDBộ Xây dựng

Sửa đổi, bổ sung một số định mức ban hành tại Thông tư số 44/2021/TTBGTVT ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành định mức quản lý, bảo dưỡng thường xuyên đường bộ

Còn hiệu lựcBan hành: 25/11/2025Thông tư
83/2025/QĐ-UBNDUBND tỉnh Điện Biên

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Còn hiệu lựcBan hành: 31/10/2025Quyết định
Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.