|
CHỈ THỊ Về thủ tục xét duyệt ký quyết định và hủy bỏ quyết định cưỡng bức lao động đối với các đối tượng tệ nạn xã hội (loại 3). --------------------------------------------- Thời gian vừa qua, thi hành quyết định số 1531/QĐ-UB ngày 25-11-1977 của Ủy ban nhân dân thành phố, các ban, ngành có chức năng đã tiến hành công tác bài trừ tệ nạn xã hội, tập trung quản lý giáo dục và cưỡng bức lao động số đối tượng loại 3. Bên cạnh nhiều thành tích đạt được, còn một số mặt tồn tại, một số thủ tục pháp lý làm chưa đúng theo quy định đã nêu trong quyết định số 1531/QĐ-UB nói trên, quyết định số 201-CP ngày 30-8-1974 của Hội đồng Chính phủ và thông tư liên Bộ Công an – Lao động số 12/TTLB ngày 24-3-1975. Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhắc lại và quy định rõ thêm về hai vấn đề gần đây thường xảy ra các vi phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền làm chủ tập thể của nhân dân và dễ gây thắc mắc, bất mãn trong quần chúng, đó là việc ký quyết định cưỡng bức lao động và hủy bỏ quyết định này một cách tùy tiện, không đúng thủ tục quy định, do lề lối làm việc chiếu lệ, đại khái, coi thường nguyên tắc, xem nhẹ quyền dân chủ của nhân dân hoặc có khi do động cơ xấu thúc đẩy. 1. Về thủ tục ra quyết định cưỡng bức lao động : a) Nhất thiết phải tuân thủ chặt chẽ điều 7 và điều 8 Bản quy định về việc cải tạo các đối tượng hình sự và tệ nạn xã hội trong thành phố, ban hành kèm theo quyết định 1531/QĐ-UB ngày 25-11-1977 và theo đúng tinh thần quyết định số 201-CP ngày 30-8-1974, thông tư liên Bộ Công an – Lao động số 12/TTLB. Không được ra quyết định cưỡng bức lao động nếu hồ sơ đương sự không được Hội đồng xét duyệt phường, xã thông qua. Cũng không thể dùng hình thức thông qua tập thể một cách chiếu lệ, trong đó chỉ ý kiến một hai cá nhân quyết định, khống chế, lôi kéo các thành viên khác nhất trí theo một cách thụ động, thiếu trách nhiêm. b) Cấm không được dùng lối vây ráp, bắt những người chưa phải là phạm pháp quả tang đưa về các trại cải tạo rồi sau đó mới lập hồ sơ gởi theo để “hợp thức hóa” mà không qua thủ tục điều tra kỹ tại địa phương, lập hồ sơ, lên danh sách… c) Khi muốn đưa một người đi cưỡng bức lao động, không thể chỉ căn cứ vào hiện tượng họ không có việc làm mà cho rằng họ lười lao động, vì họ có thể là người thất nghiệp chưa tìm ra được việc làm. Vấn đề này, thông tư số 12/TTLB ngày 24-3-1975 của liên Bộ Công an – Lao động hướng dẫn thi hành chế độ bắt buộc lao động theo quyết định số 201-CP ngày 20-8-1974 của Hội đồng Chính phủ ghi rõ là : “Trong số các đối tượng phải bắt buộc lao động, gồm có những người có sức lao động không chịu lao động mà chính quyền cơ sở đã điều động hay sắp xếp việc làm, có giấy báo gọi đi làm đến lần thứ 3 (mỗi lần cách nhau 15 ngày) nhưng vẫn không chịu tuân theo”. d) Sau khi làm đủ thủ tục, lúc đến bắt người đi cưỡng bức lao động phải trao cho gia đình đương sự một bản thứ quyết định do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân quận, huyện ký. Lúc bắt người đưa đi phải có mặt tổ trưởng hoặc tổ phó dân phố ký tên chứng nhận “có mặt” trong bản quyết định kèm theo hồ sơ đương sự gởi đến các trường, trại cải tqọ tệ nạn xã hội và trong bản quyết định trao cho gia đình đương sự. 2. Về thủ tục hủy bỏ quyết định cưỡng bức lao động, nay Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định như sau : a) Chỉ được ra quyết định hủy bỏ đối với những quyết định cưỡng bức lao động sai đối tượng. Trường hợp này, khi trả đương sự trở về gia đình, Ủy ban nhân dân quận, huyện đã ký quyết định sai đối tượng phải cấp cho đương sự một bản sao quyết định hủy bỏ lệnh cưỡng bức lao động với lý do rõ ràng là “lầm lẫn”. Ủy ban nhân dân phường, xã phải tuyên bố công khai và nhìn nhận sự sai sót của mình trong buổi họp tự kiểm điểm thường lộ trước quần chúng nhân dân (thời hạn không lâu quá 01 tháng kể từ khi đương sự trở về địa phương) để bảo vệ danh dự cho người bị oan sai. b) Đối với trường hợp đối tượng đáng lẽ thuộc loại 4, nhưng đã bị đưa đi cải tạo tập rrung, Ủy ban nhân dân quận, huyện hủy bỏ quyết định cưỡng bức lao động và thay vào đó ra quyết định quản lý giáo dục tại chỗ. c) Khi ra quyết định hủy bỏ hay thay đổi một số quyết định cưỡng bức lao động trước đó (chỉ có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch thường trực mới có quyền ký), phải có sự nhất trí trước của Hội đồng xét duyệt, trường hay trại đang quản lý giáo dục, và Ủy ban nhân dân quận, huyện. Trường hợp này không nhất thiết phải xuất phát từ Hội đồng xét duyệt phường, xã đề nghị lên, mà bất cứ ai phát hiện trường hợp oan sai (đương sự tự đứng ra khiếu nại, gia đình đương sự, Hội đồng nhân dân, các đoàn thể quần chúng, viện kiểm sát v.v…) đều có quyền đề xuất. Sở dĩ phải có thêm ý kiến của Ban lãnh đạo trường, trại là vì trong quá trình cải tạo, nơi này có thể phát hiện được oan sai hoạch những hành vi xấu mới vừa bộc lộ trong thời gian ở trường, trại. d) Vừa ra quyết định hoặc hủy bỏ quyết định cưỡng bức lao động cần được cân nhắc thận trọng, chín chắn để bảo đảm hiệu lực và uy tín của luật pháp Nhà nước và của cơ quan chính quyền. 3. Mọi trường hợp do động cơ thù oán cá nhân, bị mua chuộc, hối lộ, thiên vị bà con thân thích, làm việc tắc trách… cố ý đưa đi cưỡng bức lao động sai đối tượng hoặc cố bỏ sót những đối tượng đáng đưa đi, ra lệnh hủy bỏ quyết định cưỡng bức lao động đối với những trường hợp không oan hoặc làm ngư không chịu giải quyết những trường hợp oan sai rõ ràng đã bị phát hiện hay khiếu nại đều bị xử lý như đã vi phạm điều 12 Bản quy định kèm theo quyết định 1531/QĐ-UB này 25-11-1977 của Ủy ban nhân dân thành phố. Nhận được chỉ thị này, Ủy ban nhân dân quận, huyện và các ngành quản lý các trường, trại cải tạo tệ nạn xã hội cần phổ biến đầy đủ, khai thông kỹ cho các cơ quan trực thuộc có liên quan đến công tác bài trừ tệ nạn xã hội nắm vững và thực hiện đúng. |
Chỉ thị
Về thủ tục xét duyệt ký quyết định và hủy bỏ quyết định cưỡng bức lao động đối với các đối tượng tệ nạn xã hội (loại 3).
Số hiệu: 67/CT-UB
- Cơ quan ban hành
- UBND thành phố Hồ Chí Minh
- Ngày ban hành
- 4/12/1978
- Ngày hiệu lực
- 4/12/1978
- Người ký
- Mai Chí Thọ
- Chức danh người ký
- Phó Chủ tịch
- Lĩnh vực
- Phòng, chống tệ nạn xã hội
Hết hiệu lực toàn bộChỉ thị
Văn bản này đã hết hiệu lực
Vui lòng tra cứu văn bản thay thế trước khi áp dụng.
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng lĩnh vực: Phòng, chống tệ nạn xã hội
07/2025/QĐ-UBND•Ủy ban nhân dân tỉnh Long An
Về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn khác cần được trợ giúp khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Long An ban hành kèm theo Quyết định số 41/2021/QĐ-UBND ngày 4/10/2021 của UBND tỉnh
Còn hiệu lựcBan hành: 24/1/2025Quyết định
30/2024/NQ-HĐND•Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình
Sửa đổi một số nội dung tại Điều 5, Điều 6 Quy định nội dung, mức hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập; mức thù lao hàng tháng đối với người được giao nhiệm vụ tư vấn tâm lý, xã hội, quản lý, hỗ trợ người cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng và quản lý sau cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Bình ban hành kèm theo Nghị quyết số 10/2024/NQ-HĐND ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh
Còn hiệu lựcBan hành: 12/12/2024Nghị quyết
34/2024/NQ-HĐND•Hội đồng Nhân dân tỉnh Long An
Về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Nghị quyết số 52/2016/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về quy định chế độ trợ cấp đặc thù cho công chức, viên chức, người lao động làm việc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội (nay là Cơ sở Cai nghiện ma túy Long An)
Còn hiệu lựcBan hành: 10/12/2024Nghị quyết
04/NQ-HĐND•Hội đồng Nhân dân tỉnh Cà Mau
Công bố Danh mục Nghị quyết quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ do Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành
Còn hiệu lựcBan hành: 24/6/2024Nghị quyết
13/2023/NQ-HĐND•HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Quy định mức chi cho công tác hỗ trợ nạn nhân và mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người
Còn hiệu lựcBan hành: 8/12/2023Nghị quyết
117/2023/NQ-HĐND•HĐND tỉnh Hà Tĩnh
Quy định một số chính sách hỗ trợ người cai nghiện ma túy; người được giao nhiệm vụ hỗ trợ cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng và trợ cấp đặc thù đối với viên chức, người lao động làm việc tại cơ sở cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Còn hiệu lựcBan hành: 8/12/2023Nghị quyết
Cùng cơ quan ban hành: UBND thành phố Hồ Chí Minh
12/2026/QĐ-UBND•UBND thành phố Hồ Chí Minh
Ban hành Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Còn hiệu lựcBan hành: 17/3/2026Quyết định
11/2026/QĐ-UBND•UBND thành phố Hồ Chí Minh
Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Còn hiệu lựcBan hành: 6/3/2026Quyết định
10/2026/QĐ-UBND•UBND thành phố Hồ Chí Minh
Ban hành Quy định các tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong sử dụng công trình, nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Còn hiệu lựcBan hành: 4/3/2026Quyết định
08/2026/QĐ-UBND•UBND thành phố Hồ Chí Minh
Quy định về phân cấp cho Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố trong lĩnh vực dược và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Quyết định
09/2026/QĐ-UBND•UBND thành phố Hồ Chí Minh
Ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Quyết định
07/2026/QĐ-UBND•UBND thành phố Hồ Chí Minh
Phân cấp cho Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh về cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho hàng hóa của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Quyết định
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.