|
CHỈ THỊ CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Về công tác tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Sau khi pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 2 tháng 5 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định số 38/HĐBT ngày 28 tháng 1 năm 1992 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này. Trong tình hình hiện nay, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong những yêu cầu cấp bách và quan trọng nhằm nâng cao lòng tin của nhân dân vào Đảng và Chính phủ, vào các cơ quan chức năng của Nhà nước; qua đó nhằm góp phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, buôn lậu, tiêu pha lãng phí của công và các tệ nạn xã hội khác. Sau một năm thực hiện hai văn bản trên, Thủ tướng Chính phủ nhận thấy: Việc tổ chức tiếp dân của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp nói chung còn nặng về hình thức; chưa coi trọng việc bố trí cán bộ tiếp dân, cán bộ làm nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; năng lực, trình độ nghiệp vụ và trình độ chính trị của số cán bộ làm công việc này còn hạn chế; việc giải quyết còn trì trệ, không kịp thời; chất lượng xem xét và kết luận nhiều vụ việc thiếu căn cứ tin cậy. Những kết luận, yêu cầu giải quyết của cấp trên hoặc của cơ quan chức năng không được thực hiện kịp thời , đầy đủ, do đó hiệu quả giải quyết thấp, đơn tồn đọng nhiều; việc thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân không được thực hiện đầy đủ. Để kiện toàn một bước việc tổ chức tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng pháp luật, có hiệu quả thiết thực, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị: 1. Phải kiện toàn tổ chức tiếp dân để đảm bảo việc xem xét, giải quyết và kết luận một cách nghiêm túc, theo đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời và kết quả. Khi quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân và mọi công dân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. 2. Trong quý I năm 1993, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Uỷ ban nhân dân các quận, huyện, thị xã phải kiện toàn ngay việc tổ chức tiếp dân. Phòng tiếp dân phải lịch sự, nghiêm trang; tại phòng tiếp dân, phải ghi rõ thời gian và nội quy tiếp dân, cán bộ tiếp dân phải ghi rõ họ, tên, chức vụ để mọi người biết. Phải bố trí cán bộ chuyên trách, có năng lực và trình độ nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị và phong cách tốt để làm nhiệm vụ tiếp dân, bảo đảm giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của dân theo đúng pháp luật. Trang phục của cán bộ chuyên trách tiếp dân thực hiện theo thông báo số 11/TB ngày 18 tháng 2 năm 1992 của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (nay là văn phòng Chính phủ). 3. Các Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các quận, huyện, thị xã phải dành thời gian ít nhất nửa ngày trong một tuần để trực tiếp tiếp cán bộ, nhân dân đến yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo về những vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý và thẩm quyền giải quyết của ngành hoặc địa phương mình. 4. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải soát xét ngay các khiếu nại, tố cáo của công dân còn tồn đọng thuộc thẩm quyền giải quyết của mình để giải quyết và kết luận kịp thời, dứt điểm, đúng pháp luật. 5. Định kỳ ba tháng một lần, các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời gửi Tổng Thanh tra Nhà nước về công tác tổ chức tiếp công dân, về kết quả giải quyết khiếu nại, tổ cáo của công dân thuộc thẩm quyền ngành địa phương mình, kết quả giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo của công dân do cơ quan tiếp dân của Trung ương đảng và Nhà nước chuyển đến. Thanh tra Nhà nước phối hợp với các cơ quan hữu quan khẩn trương lập trụ sở cơ quan tiếp dân của Trung ương Đảng và Nhà nước ở phía Nam đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và đưa vào hoạt động ngay trong quý I năm 1993. 6. Tổng Thanh tra Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện chỉ thị này và định kỳ ba tháng một lần, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ. Đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cáo và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi trách nhiệm của mình, cùng phối hợp thực hiện chỉ thị này.
|
Chỉ thị
Về công tác tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Số hiệu: 18-TTg
- Cơ quan ban hành
- Thủ tướng Chính phủ
- Ngày ban hành
- 15/1/1993
- Ngày hiệu lực
- 15/1/1993
- Người ký
- Võ Văn Kiệt
- Chức danh người ký
- Thủ tướng
- Lĩnh vực
- Dân sự - Kinh tế
Còn hiệu lựcChỉ thị
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng lĩnh vực: Dân sự - Kinh tế
21/2021/NĐ-CP•Chính phủ
Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Còn hiệu lựcBan hành: 19/3/2021Nghị định
39/2016/QĐ-UBND•Ủy ban nhân dân tỉnh Long An
Về việc bãi bỏ Quyết định số 20/2011/QĐ-UBND ngày 07/7/2011 của UBND tỉnh ban hành quy chế phối hợp quản lý về tổ chức và hoạt động giám định tư pháp giữa Sở Tư pháp và sở, ngành có hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Long An
Còn hiệu lựcBan hành: 28/7/2016Quyết định
01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP•Toà án nhân dân tối cao
Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình
Còn hiệu lựcBan hành: 6/1/2016Thông tư liên tịch
857/NQ-UBTVQH13•Quốc hội
Về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)
Còn hiệu lựcBan hành: 25/12/2014Nghị quyết
01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP•Toà án nhân dân tối cao
Hướng dẫn thi hành Điều 32a của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
Còn hiệu lựcBan hành: 6/1/2014Thông tư liên tịch
06/2010/CT-UBND•UBND tỉnh Lâm Đồng
Triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.
Còn hiệu lựcBan hành: 17/9/2010Chỉ thị
Cùng cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ
05/2026/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030
Còn hiệu lựcBan hành: 27/1/2026Quyết định
07/2026/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm
Còn hiệu lựcBan hành: 27/1/2026Quyết định
01/2026/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Còn hiệu lựcBan hành: 1/1/2026Quyết định
51/2025/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030
Còn hiệu lựcBan hành: 29/12/2025Quyết định
50/2025/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Ban hành Quy chế tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc liên tịch ban hành
Còn hiệu lựcBan hành: 25/12/2025Quyết định
49/2025/QĐ-TTg•Thủ tướng Chính phủ
Giải thể và chấm dứt hoạt động của Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài
Còn hiệu lựcBan hành: 22/12/2025Quyết định
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.