|
CHỈ THỊ Về tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động công tác hòa giải ở cơ sở -----------------------------
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh, việc triển khai công tác hòa giải ở tỉnh ta theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định của Chính phủ số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh này (sau đây gọi chung là Nghị định của Chính phủ số 160/1999/NĐ-CP) đã có sự chuyển biến và phát triển không ngừng cả về tổ chức và hoạt động. Đến thời điểm hiện nay, gần 100% thôn, buôn, tổ dân phố trong toàn tỉnh đã có Tổ hòa giải; bình quân mỗi năm các tổ hòa giải thụ lý, giải quyết hơn 4.000 vụ việc tranh chấp, vi phạm nhỏ phát sinh trong cộng đồng dân cư và đã hòa giải thành trên 75% số vụ việc. Kết quả này đã trực tiếp làm giảm đáng kể các vụ, việc phải đưa ra xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp; có tác dụng tích cực trong việc củng cố, giữ gìn và phát huy tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng dân cư, nâng cao kết quả giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, góp phần phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư ở cơ sở... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh ta nói chung vẫn còn những tồn tại nhất định làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động, như: cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và một bộ phận cán bộ, nhân dân ở một số địa phương chưa đánh giá đầy đủ tầm quan trọng của công tác hòa giải nên chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm, vai trò của mình trong việc chỉ đạo, phối hợp thực hiện công tác này, nhất là ở cấp cơ sở; Một số nơi, UBND cấp xã không quản lý được hoạt động hòa giải ở địa phương mình; Số lượng hòa giải viên chưa được tập huấn nghiệp vụ hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật còn chiếm một tỷ lệ không nhỏ; Các Tổ hòa giải hoạt động còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về kinh phí cần thiết cho tổ chức và hoạt động; Kinh phí cho công tác quản lý đối với hoạt động hòa giải ở các cấp còn chưa được quan tâm đúng mức, gây nhiều khó khăn cho việc tổ chức tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và thi đua, khen thưởng, nhằm kịp thời động viên, khuyến khích và góp phần nâng cao chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở nói chung... Nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, UBND tỉnh chỉ thị các cấp, các ngành, địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, từng bước khắc phục những mặt tồn tại, khó khăn đồng thời phát huy những mặt tích cực để đẩy mạnh hiệu quả công tác hòa giải trong thời gian tới, với các yêu cầu sau: 1. Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ hòa giải: UBND các huyện và thành phố Buôn Ma thuột có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thuộc mình quản lý, phối hợp tiến hành rà soát lại các tổ hòa giải của từng thôn, buôn, tổ dân phố; số lượng hòa giải viên, trình độ, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu công tác của hòa giải viên hiện có tại địa phương mình. Để trên cơ sở đó tiến hành thành lập mới các tổ hòa giải tại các thôn, buôn, tổ dân phố chưa có tổ hòa giải hoặc xét thấy cần thiết phải thành lập thêm, và kịp thời bổ sung, thay đổi hòa giải viên tại các tổ hòa giải đã được thành lập nhưng chưa đủ số lượng hòa giải viên, hoặc có hòa giải viên không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác của tổ hòa giải. Đến hết năm 2004, đảm bảo tất cả các thôn, buôn, tổ dân phố trong tỉnh đều có tổ hòa giải và các tổ hòa giải hoạt động có nề nếp, đạt hiệu quả. Trong đó cần đặc biệt chú trọng đến việc củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải tại các thôn, buôn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, và ở các cụm dân cư mới tách lập. Đối với thôn, buôn, tổ dân phố có dưới 50 hộ dân thì thành lập 01 tổ hòa giải gồm có từ 03 đến 04 hòa giải viên; trên 50 hộ dân thì thành lập 01 tổ hòa giải gồm có từ 05 đến 07 hòa giải viên; trên 150 hộ dân thì thành lập 02 tổ hòa giải. Thành phần tổ hòa giải được cơ cấu từ những người có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; có hiểu biết kiến thức pháp luật và có uy tín trong nhân dân, trong đó chú trọng đến những người là già làng và trưởng buôn (đối với các buôn đồng bào dân tộc thiểu số), cán bộ hưu trí, lão thành cách mạng và những người tham gia phụ trách các tổ chức, đoàn thể ở thôn, buôn, tổ dân phố. Mỗi tổ hòa giải có tổ trưởng phụ trách tổ và các tổ viên; đối với tổ hòa giải có từ 05 thành viên trở lên thì có thêm 01 Tổ phó để cùng với tổ trưởng phụ trách tổ. Việc bầu, công nhận tổ viên và người phụ trách tổ hòa giải phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn, đúng thủ tục, trên cơ sở phát huy tính dân chủ theo quy định tại Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định của Chính phủ số 160/1999/NĐ-CP. 2. Tổ chức tốt việc bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho hòa giải viên: Sở Tư pháp có trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Phòng Tư pháp trong việc giúp UBND các huyện, thành phố tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên. Tổ chức biên soạn tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật thích hợp để cấp phát cho các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh thông qua mạng lưới hệ thống Tủ sách pháp luật, Điểm bưu điện - văn hóa xã, Bản tin Tư pháp (cấp phát đến thôn, buôn, tổ dân phố)... phục vụ công tác hòa giải ở cơ sở của tỉnh. Trên cơ sở những nội dung hướng dẫn về nghiệp vụ của Sở Tư pháp, UBND các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng Tư pháp tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Ban Tư pháp trong việc giúp UBND các xã, phường, thị trấn tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên; đồng thời chỉ đạo UBND các xã, phường, trị trấn tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ hòa giải ở địa phương theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên. Việc tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên phải được tiến hành một cách thường xuyên với định kỳ ít nhất 06 tháng một lần, bằng nhiều hình thức thích hợp nhằm mang lại hiệu quả thiết thực. Định kỳ 02 năm một lần, Sở Tư pháp có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức Hội thi “Hòa giải viên giỏi” trong phạm vi toàn tỉnh, nhằm qua đó tạo điều kiện giao lưu, học tập kinh nghiệm, góp phần nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên. UBND các huyện, thành phố và UBND các xã, phường, trị trấn có trách nhiệm tổ chức tốt các Hội thi ở cấp mình, đồng thời tạo mọi điều kiện để các hòa giải viên thuộc địa phương mình tham gia tốt các Hội thi. 3. Đảm bảo kinh phí cần thiết cho công tác quản lý và tổ chức, hoạt động của hòa giải: Kinh phí cần thiết cho công tác quản lý và tổ chức, hoạt động của hòa giải là kinh phí nhằm đảm bảo để thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo quy định của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định của Chính phủ số 160/1999/NĐ-CP, gồm: kinh phí cần thiết cho công tác triển khai và quản lý hoạt động hòa giải ở địa phương; kinh phí cần thiết cho việc kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng; và kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của các tổ hòa giải... nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở địa phương. Kinh phí chi cho công tác quản lý và tổ chức, hoạt động của hòa giải ở cấp nào, do ngân sách của cấp đó đảm nhận. Hàng năm, cơ quan Tư pháp các cấp lập dự toán kinh phí chi cho công tác này trình UBND cùng cấp quyết định. UBND và cơ quan tài chính các cấp phải có trách nhiệm cấp đủ kinh phí cần thiết chi cho công tác này ở địa phương mình. Đối với các xã vùng II, vùng III, ngân sách cấp huyện phải đảm nhiệm hỗ trợ một phần kinh phí để các xã này triển khai thực hiện tốt công tác hòa giải ở địa phương. Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể, UBND tỉnh khuyến khích các xã, phường, thị trấn hỗ trợ một phần kinh phí bằng hình thức phụ cấp hàng tháng hoặc thưởng theo từng vụ việc hòa giải thành đối với các hòa giải viên, nhằm động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ hòa giải viên của mình. 4. Về tổ chức, triển khai thực hiện: Sở Tư pháp có trách nhiệm tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạo và triển khai thực hiện các quy định về công tác hòa giải (theo quy định tại Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, Nghị định của Chính phủ số 160/1999/NĐ-CP và nội dung chỉ đạo tại Chỉ thị này …), nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh. Định kỳ 06 tháng và hàng năm tham mưu, tổ chức sơ kết, tổng kết công tác hòa giải trong phạm vi toàn tỉnh, báo cáo về công tác hòa giải với UBND tỉnh và Bộ Tư pháp; tổ chức tốt công tác thi đua, khen thưởng về hoạt động hòa giải trong toàn tỉnh. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh tỉnh… thường xuyên phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ về công tác tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; đồng thời chỉ đạo các đơn vị, thành viên thuộc tổ chức mình ở cấp huyện và cấp xã phối hợp chặt chẽ với chính quyền trong việc củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải và thực hiện tốt các quy định về công tác hòa giải. UBND các huyện và Thành phố Buôn Ma Thuột có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định về công tác hòa giải ở địa phương mình, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở địa phương. Định kỳ 06 tháng và hàng năm chỉ đạo tổ chức sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương mình và báo cáo về công tác hòa giải với UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp), và tổ chức tốt công tác thi đua, khen thưởng về hoạt động hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương. UBND các xã, phường, thị trấn có trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý về tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải, ngoài việc triển khai thực hiện tốt các quy định về công tác hòa giải ở địa phương mình, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở địa phương, định kỳ 06 tháng và hàng năm tổ chức sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương và báo cáo về công tác hòa giải với UBND huyện, thành phố; tổ chức tốt công tác thi đua, khen thưởng về hoạt động hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương; tổ chức và duy trì thường xuyên chế độ giao ban hàng quý về công tác hòa giải ở địa phương mình, nắm bắt về tình hình và kết quả hoạt động, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong công tác hòa giải để kịp thời hướng dẫn, đề xuất biện pháp khắc phục, kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở địa phương. UBND tỉnh yêu cầu các Sở, ngành có liên quan ở tỉnh và UBND các huyện, Thành phố; UBND các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao … chủ động và khẩn trương chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt Chỉ thị này. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc thì kịp thời báo cáo UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) biết để chỉ đạo giải quyết. Giao cho Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này, định kỳ 06 tháng và hàng năm tổng hợp kết quả báo cáo với UBND tỉnh. |
Chỉ thị
Về tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động công tác hòa giải ở cơ sở
Số hiệu: 09/2004/CT-UB
- Cơ quan ban hành
- UBND tỉnh Đắk Lắk
- Ngày ban hành
- 18/5/2004
- Ngày hiệu lực
- 18/5/2004
- Người ký
- Nguyễn Văn Lạng
- Chức danh người ký
- Chủ tịch
- Lĩnh vực
- Tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở
Hết hiệu lực toàn bộChỉ thị
Văn bản này đã hết hiệu lực
Đã được thay thế bởi Chỉ thị 11/2014/CT-UBND (hiệu lực 07/11/2014).
Lịch sử hiệu lực
- 18/05/2004Ban hành
- 18/05/2004Bắt đầu có hiệu lực
- 07/11/2014Thay thế bởi Chỉ thị 11/2014/CT-UBND
Văn bản liên quan
Hết hiệu lực bởi1
Căn cứ ban hành2
Khám phá thêm
Văn bản cùng lĩnh vực và cùng cơ quan ban hành.
Cùng lĩnh vực: Tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở
03/CT-BTP•Bộ Tư pháp
Về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở
Còn hiệu lựcBan hành: 27/6/2011Chỉ thị
65/2006/QĐ-UBND•ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Về việc Ban hành Quy chế hòa giải viên ở cơ sở
Còn hiệu lựcBan hành: 5/7/2006Quyết định
29/2015/QĐ-UBND•Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Quy định mức chi thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Hết hiệu lực toàn bộBan hành: 31/8/2015Quyết định
26/2015/QĐ-UBND•UBND tỉnh Hậu Giang
Quy định một số mức chi, việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện công tác chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân và công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Hết hiệu lực toàn bộBan hành: 11/8/2015Quyết định
67/2014/QĐ-UBND•UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Ban hành quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Hết hiệu lực toàn bộBan hành: 31/12/2014Quyết định
40/2014/NQ-HĐND•HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Quy định mức chi thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Hết hiệu lực toàn bộBan hành: 18/12/2014Nghị quyết
Cùng cơ quan ban hành: UBND tỉnh Đắk Lắk
23/2026/QĐ-UBND•UBND tỉnh Đắk Lắk
Ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Còn hiệu lựcBan hành: 19/3/2026Quyết định
22/2026/QĐ-UBND•UBND tỉnh Đắk Lắk
Ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển đất tỉnh Đắk Lắk
Còn hiệu lựcBan hành: 13/3/2026Quyết định
21/2026/QĐ-UBND•UBND tỉnh Đắk Lắk
Ban hành Bộ đơn giá dịch vụ công ích đô thị trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Còn hiệu lựcBan hành: 13/3/2026Quyết định
20/2026/QĐ-UBND•UBND tỉnh Đắk Lắk
Quy định phân cấp quản lý công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Còn hiệu lựcBan hành: 12/3/2026Quyết định
19/2026/QĐ-UBND•UBND tỉnh Đắk Lắk
Quy định chi tiết nội dung tiêu chí, thang điểm đánh giá lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Còn hiệu lựcBan hành: 12/2/2026Quyết định
18/2026/QĐ-UBND•UBND tỉnh Đắk Lắk
Quy định mực nước tương ứng với các cấp báo động lũ trên các sông, suối thuộc địa bàn phía Đông tỉnh Đắk Lắk
Còn hiệu lựcBan hành: 10/2/2026Quyết định
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.