LUẬT SƯ FDVN TỔNG LƯỢC ÁN LỆ FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH ị ÁN LỆ SỐ 72/2024/AL ị VỀ XÁC ĐỊNH DI SẲN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG TRƯỜNG HỢP DI CHÚC KHÔNG THỂ HIỆN DIỆN TÍCH CỤ THỂ (ÁP DỤNG TỪ NGÀY 15/6/2024) NỘI DUNG ÁN LỆ "[4] Theo Tờ di chúc đề ngày 16/5/1998, cụ M và cụ B cho bà G diện tích đất là 15 công tầm lớn. Mặc dù di chúc không ghi diện tích đất cụ thể, chỉ ghi là 15 công tấm lớn nhưng có nêu tứ cận của khu đất: Mặt tiền giáp Kênh N, Đông (hậu) giáp Nguyễn Văn L1, Bắc giáp Lý Tùng H1, Tây giáp Quách Văn M2. Như vậy, phần đất bà G được cha, mẹ cho là đất có khuôn viên, xung quanh tiếp giáp với kênh N và đất của các hộ dân khác, hiện nay không có tranh chấp về tứ cận. Sau khi cụ M chết, tại Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004 và Tờ di chúc ngày 09/9/2006 cụ B đã thể hiện ý chí cho bà G toàn bộ diện tích 32.5000m? đất, điều này phù hợp với việc năm 1998 vợ chồng cụ M, cụ B lập di chúc cho bà G đất theo khuôn viên. [5] Tờ di chúc đề ngày 16/5/1998 do cụ M và cụ B lập có chữ ký của các con (trong đó có ông U) và xác nhận của chính quyền địa phương; Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004, có chữ ký của các con (không có chữ ký của ông U) và xác nhận của chính quyền địa phương, Tờ di chúc đề ngày 09/09/2006 có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện tại thời điểm lập di chúc và họp gia đình các con của cụ M, cụ B không ai có ý kiến phản đối việc hai cụ cho bà G toàn bộ phần đất tranh chấp, đều xác nhận do bà G sống chung với cha mẹ từ nhỏ nên cha, mẹ và các anh chị em thống nhất cho bà G quản lý đất để thờ phụng cha, me. Riêng ông U cho rằng ông U được cụ M, cụ B tặng cho đất từ năm 1998 nên ngày 15/11/2000, ông U được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông U không xuất trình được chứng cứ chứng minh có cha mẹ tặng cho đất. [8] Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thầm căn cứ vào nội dung của di chúc, biên bản họp gia đình, lời khai của các con cụ M, cụ B và quá trình quản lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1998 của bà G cũng như việc kê khai, đăng ký đất từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, công nhận bà G được hưởng thừa kế đối với phần đất là di sản của cụ M, cụ B là cóếãIcứ." TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ E] Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được định Trường hợp này, Toà án phải xác định di sản đoạt theo di chúc hợp pháp, nội dung di chúc thừa kế là quyền sử dụng đất được xác định có xác định tứ cận nhưng không thể hiện diện theo diện tích đo đạc thực tế theo tứ cận thể tích vụ thể và không có tranh chấp về tứ cận. hiện trong di chúc. 3= Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn FDVN LAW HRM Tài liệu — vụ Được Hội đông Thẩm pề $(-TàÄ 4ff nhấn dân tỗi cao thông qua vào các ngày 20, 21, 23 tháng 02 năm 2024 và được công bố theo Quyết định số 1191/Q@Đ-CA ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thấm số 60/2022/DS-GĐT ngày 19/12/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế quyên sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị G với bị đơn là ông Nguyễn Văn U; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 19 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 4, 5 và 8 phần “Nhận định của Toà án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huỗng án lệ: Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được định đoạt theo di chúc hợp pháp, nội dung di chúc có xác định tứ cận nhưng không thể hiện diện tích đất cụ thể và không có tranh chấp về tứ cận. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định di sản thừa kế là quyên sử dụng đất được xác định theo diện tích đất đo đạc thực tế theo tứ cận thể hiện trong di chúc. Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ: Các điều 624, 630 và 634 Bộ luật Dân sự năm 2015. Từ khoá của án lệ: “Di sản thừa kế”; “Di chúc hợp pháp”; “Thừa kế theo di chúc”; “Xác định theo tứ cận”. NỘI DUNG VỤ ÁN Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyên Thị Œ trình bày: Cha, mẹ bà là cụ Nguyễn Văn M (chết năm 1998) và cụ Nguyễn Thị B (chết năm 2010); cụ M và cụ B có 08 người con gồm: Nguyên Thị H, Nguyễn Thị MI, Nguyễn Văn C (chết không nhớ năm), N guyền Thị G, N guyển Văn K (chết năm 2016), Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị P và Nguyễn Văn U. Dĩi sản thừa kế do cụM, cụ B để lại là phần đất có diện tích 32.500m” thuộc tờ bản đồ số 10D, thửa số 809 và 810 tại ấp N, xã T, huyện C (nay là huyện P), tỉnh Cà Mau. Nguồn góc đất tranh chấp là của cha, mẹ cụ B khai phá; sau đó cho vợ chồng cụ M, cụ B quản lý và sử dụng. Năm 1993, cụ M kê khai vào số mục kê địa ' Án lệ này do Hội đồng xét xử gỗm 05 Thâm phán Tòa án nh <Luár SƯ FDVN IMietyiesá Web: fđvn vn - ídyniawfrm.vn ] 3ö4 chính thuộc tờ bản đồ số 10D, thửa số 809 và 810, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giây chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994, 1995, ông Nguyễn Văn U ra ở riêng trên phần đất tại ấp A, xã T, HUyỆn, P, còn bà chung sông với cha mẹ từ nhỏ và quản lý, sử dụng phần đất 32. 500m nêu trên từ đó cho đên nay. Ngày 16/5/1998, cụ M lập di chúc để lại cho bà phần đất 15 công tầm Cây, còn 10 công thì ai thờ cúng ông bà sẽ được hưởng. Khi lập di chúc cụ M vẫn còn minh mãn. Năm 2000, ông U giả mạo chữ ký của cụ M đề làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông U mà bà không biết. Năm 2004, cụ B họp các con trong gia đình và thống nhất cho bà toàn bộ 32.500m2 đất để bà quản lý và thờ phụng ông bà, Biên bản họp gia đình có Ủy ban nhân dân xã T chứng thực. Năm 2006, cụ B tiếp tục lập di chúc cho bà toàn bộ phần đất nêu trên. Sau khi cụ B chết, bà vẫn quản lý và sử dụn đất cho đến nay. Tuy nhiên, năm 2016, ông U ngăn cản không cho bà sử dụng đât và cho rằng đất này ông U đã được cha, mẹ cho. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền. sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông U ngày 15/11/2000 và công nhận quyền sử dụng đất cho bà theo đi chúc đối với phần đât có điện tích 32.500m” (đo đạc thực tế là 35.180,7m”). Căn nhà có trên đất là của cụ M và cụ B, ông U chỉ là người đứng ra xây dựng khi còn ở chung với cha mẹ, khi ông U đi nơi khác thì bà sử dụng và có sửa chữa lại. Bị đơn là ông Nguyễn Văn U trình bày: Ông thông nhất về quan hệ huyết thống như lời trình bày của bà G. Nguồn góc đất tranh chấp do cụ M, cụ B khai phá từ năm 1950. Năm 1983, bà G cât nhà tạm ở mặt tiền phân đất tranh chấp đề buôn bán, còn ông là con trai út tiếp tục chung sông, chăm sóc cha mẹ và trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Khoảng năm 1993, ông xây dựng căn nhà từ nguồn tiền trong gia đình vì lúc này ông sông chung với gia đình. Năm 1998, cha, mẹ tặng cho ông đất, có Biên bản họp gia đình và ông đã nộp cho cơ quan có thâm quyền đề được cấp giây chứng nhận quyền . sử dụng đất. Cùng năm 1998, ông đã kê khai, đăng ký theo quy định và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giây chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/11/2000. Sau khi cụ M chết, do cuộc sống khó khăn nên ông đi nơi khác làm ăn, còn vợ con ông vẫn sống tại nhà đất nêu trên. Năm 2010, cụ B chết, nhằm tạo điễu kiện cho bà G có thu nhập nên ông đi nơi khác sinh sống, để lại căn nhà cho bà G mượn ở và canh tác trên đất. Phần đất mà vợ chồng ông hiện đang sử dụng tại ấp L, xã T được mua bằng nguồn tiền của vợ chồng ông. l Đối với việc cha mẹ lập đi chúc và họp gia đình cho bà G đất, ông không biết. Tại đơn phản tố đề ngày 16/3/2018, ông U yêu cầu Tòa án buộc bà G trả lại cho ông toàn bộ diện tích phân đất tranh chấp và căn nhà cấp 4 trên đất. 4 LUATsƯ rDvx z IMietyiesá Web: fđvn vn - ídyniawfrm.vn 352 Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: 1. Bà Nguyễn Thị MI trình bày: Bà G sống chung với cha, mẹ từ nhỏ. Việc cha, mẹ lập di chúc cho bà G đất có sự chứng kiến của bà; khi cụ B họp gia đình bà tham dự, không có mặt ông U. Căn nhà trên đất do cha, mẹ xây cât vì lúc này các con còn ở chung với cha, mẹ. Phần đât hiện ông U đang quản lý, sử dụng khoảng 06 ha ở âp I, xã T là do người em thứ 7 bán cho cụ B một phân, người em thứ 6 cho một phần đất để nuôi cha, mẹ nhưng ông Ù không nuôi cha, mẹ. Đối với phân đất tranh chấp và tài sản trên đất bà không yêu câu chia thừa kế; yêu cầu giải quyết phần đất tranh chấp thuộc về bà G theo di chúc cha, mẹ để lại. 2. Ông Nguyễn Văn L trình bày: Việc xây nhà là do cha, mẹ và anh em trong gia đình xây cât không phải do ông U xây. Khi cha, mẹ còn sông có lập di chúc và họp gia đình cho bà G phần đất tranh chấp. Đối với phần đất ông U đang quản lý, sử dụng có Ì phân do ông bán cho ô ông U và một phần do anh thứ 6 cho để nuôi cha, mẹ. Ông yêu cầu Tòa án giải quyêt phần đât tranh chấp thuộc về bà G theo di chúc của cha, mẹ. 3. Bà Nguyễn Thị P trình bày: Khi cha, mẹ còn sống bà có nghe cha nói cho bả G 5 công đất. Bà không yêu cầu chia thừa kế mà chỉ yêu cầu để lại 05 công đất nền mộ không ai được quyền chia. 4. Bà Nguyễn T Thị H trình bày: Trước đây khi cha, mẹ còn sống có nói là làm di chúc đê lại phần đất tranh chấp cho bà G còn việc làm di chúc thời điểm nào thì bà không nhớ vì thời gian đã lâu. Bà G ở phần đất tranh chấp từ lúc nhỏ đến nay và là người nuôi dưỡng cha, mẹ lúc còn sông, sau khi cha, mẹ chết bà G là người thờ cúng cha, mẹ. Ông U không quản lý phần đất tranh chấp vì ông U có đất riêng. 5. Anh Nguyễn Văn V trình bày: Anh yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản mà cha anh là ông C được hưởng. 6. Anh Nguyễn Văn T: Thông nhất với phần trình bày của anh V. 7. Chị Nguyễn Thúy H: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại Bản án dân sự sơ thâm số 04/2019/DS-ST ngày 16/4/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kế của bà Nguyễn Thị G đổi với ông Nguyên Văn Ù. "Bà GŒ được hưởng thừa kế đối với phần di sản của cụ Nguyên Văn M và cụ Nguyễn, Thị B để lại gôm: Phân đất theo đo đạc thực tế diện tích 35. 180,7m” tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện P, tính Cà Mau (có nêu tứ cận) và tài sản gắn liên trên đất gồm: 001 nhà chính kích thước ngang 6,7m, dài 8,7m, diện tích 58,29mi, kết cấu khung cột gỗ địa phương, vách ván, mái lợp tol, nên đất, xây cất năm Ï 993, bà ỞŒ sửa chữa lại năm 2016, 01 nhà phụ kích thước ngang lI,4m, dài 2l 3m, điện tích 242, 82m2, kết cầu xây bó gạch thẻ, khung thép, cột bê tông cốt thép, vách thiếc, mái tol tráng kẽm, nền đất, xây cất năm 2012; 01 cây nước khoan và cây li “Ông trên đát. Hủy Giáy chứng nhận quyên sử dụng đất số R202211 cấp ngày 15/11/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau -h¬ »~ Min Văn U đứng tên. <$LUẬT SƯ FDVN Wukeegeles web: flrn vn -fdvnlawfirm.vn 3 586 Không chấp nhận yêu cầu phản tô của ông Nguyễn Văn về việc buộc bà G, chị H, anh TÌ trả lại cho ông U toàn bộ diện tích đất tranh chấp nêu trên và căn nhà trên đất. _ Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thấm còn quyết định về án phí, chỉ phí tổ tụng và quyên kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 26/4/2019, bị đơn là ông Nguyễn Văn U có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thâm nêu trên. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 646/2019/DS-PT ngày 13/12/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Không chấp nhận khẳng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. Tòa án cấp phúc thâm còn quyết định về án phí, chi phí định giá, giám định và nghĩa vụ thi hành án. Tại Quyết định kháng nghị giảm đốc thậm số 01/QĐ- VK§- DS ngày 04/3/2022, Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bán án dân sự phúc thâm số 646/2019/DS-PT ngày 13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ, Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm theo hướng hủy Bản án đân sự phúc thâm nêu trên, huỷ Bản án dân sự sơ thâm số 04/2019/DS-ST ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, g1ao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: LH Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 35.180,7m? thuộc thửa đất số 809, §10 tờ bản đồ số 10D (theo hồ sơ địa chính năm 1993) nay là thửa đất số 135, 136 tờ bản đồ SỐ 10 (theo hồ sơ địa chính năm 2006) tại ập N, xãT, huyện | tỉnh Cà Mau có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn M (chết năm 1998) vả cụ Nguyễn Thị B (chết năm 2010). Hiện trạng trên đất có 01 nhà chính diện tích 58§,209m” (xây năm 1993), cây nước khoan, cây trồng và khu mộ gồm 03 ngôi mộ. [2] Cụ M, cụ B có 08 người con gồm: Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị MI, ông Nguyễn Văn C (đã chết, không rõ năm nào), bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn K (chết năm 2016), ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn U. [3] Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị G cho rằng VỢ chồng cụ M, cụ B đã cho bà phần đất nêu trên từ năm 1998, sau khi được cho đât bà G đã liên tục quản lý, sử dụng và có sửa chữa căn nhà trên đất. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn U không thừa nhận việc cha, mẹ lập di chúc cho bà G toàn bộ đât mà cho rằng năm 1998 cha, mẹ đã cho ô ông U diện tích đất nêu trên và năm 2000 ông U được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giầy chứng nhận quyền sử đụng đất. đ@LUATsƯ FDvx 4 Iueazslasá web: Ílvnvn -fdvnlawBrmvn 33/ [4] Theo Tờ di chúc đề ngày 16/5/1998, cụ M và cụ B cho bà G diện tích đất là 15 công tầm lớn. Mặc đù di chúc không ghi diện tích đất cụ thẻ, chỉ ghi là 15 công tâm lớn nhưng có nêu tứ cận của khu đất: Mặt tiền giáp Kênh N, Đông (hậu) giáp Nguyễn Văn L1, Bắc giáp Lý Tùng, HI, Tây giáp Quách Văn M2. Như vậy, phần đất bà ÑØ được cha, mẹ cho là đất có khuôn viên, xung quanh tiếp giáp với kênh N và đất của các hộ dân khác, hiện nay không có tranh chấp vê tứ cận. Sau khi cụ M chết, tại Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004 và Tờ di chúc ngày 09/9/2006 cụ B đã thể hiện ý chí cho bà G toàn bộ diện tích 32.500m2 đắt, điều này phù hợp với việc năm 1998 vợ chồng cụ M, cụ B lập di chúc cho bà G đất theo khuôn viên. [5] Tờ di chúc đề ngày 16/5/1998 do cụ M và cụ B lập có chữ ký của các con (trong đó có ông U) và xác nhận của chính quyền địa phương: Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004. có chữ ký của các con (không có chữ ký của ông Ủ) và xác nhận của chính quyền địa phương, Tờ di chúc đệ ngày 09/09/2006 có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện tại thời điểm lập di chúc và họp gia đình các con của cụ M, cụ B không ai có ý kiến phản đối việc hai cụ cho bà G toàn bộ phần đất tranh chấp, đều xác nhận do bà G sông chung với cha mẹ từ nhỏ nên cha, mẹ và các anh chị em thống nhất cho bà G quản lý đât để thờ phụng cha, mẹ. Riêng ông U cho rằng ông U được cụ M, cụ B tặng cho đất từ năm 1998 nên ngày 15/11/2000, ông U được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất nhưng ông U không xuất trình được chứng cứ chứng minh có việc cha mẹ tặng cho đất. [6] Đối với việc kê khai, đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tranh chấp: Phiếu cung cấp thông tin địa chính sô 32/PCCTT ngày 29/12/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thể hiện cụ M đăng ký, kê khai năm 1993 và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất; đến năm 2006, bà G đăng ký, kê khai quyên sử dụng đât. Tại Công văn số 1922/UBND ngày 23/10/2018, Ủy ban nhân dân huyện P cho biết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho ông U đã thất lạc. Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 23/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, ông U trình bày cụ Mủy quyên cho ông làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng. U] Thời điểm năm 1998 ô ông U không sống chung với cha, mẹ mà sống tại ấp I, xã T; đồng thời quản lý, sử dụng phần đất có diện tích khoảng. 06 - 07ha. Bà G, bà M, ông L đều xác định phần đất ông Ö sử dụng tại ấp I là của cụ M, cụ B cho ô ông U sử dụng (trong đó có một phần của ông L sang nhượng cho cụ M, cụ B và một phần của người con thứ 6 cho đề nuôi cha mẹ). ng U cho rằng đất ông sử dụng tại âp I có một phần do tập đoàn cấp, một phần do nhận chuyển nhượng nhưng ông U không xuât trình được chứng cứ chứng minh. [8] Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thâm và Tòa án cấp phúc thâm căn cứ vào nội dung của di chúc, biên bản họp gia đình, lời khai của các con cụ M, cụ B và quá trình quản lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1998 của bà G cũng như việc kê khai, đăng ký đất từ đó chấp, nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, công nhận bà G được hưởng thừa kế đôi với phần đất là di sản của cụ M, cụ B là có căn cứ. Vì các lẽ trên, <2 LUẬT SƯ FDVN lMietglesá Web: fdvn vn -fdvniawfrmvn 5 QUYÊT ĐỊNH: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 1 Điều 343 Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2015; 1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 01/QĐ-VKS- DS ngày 04/3/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tôi cao. 2. Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thâm sỐ 646/2019/DS-PT ngày 13/12/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phô Hồ Chí Minh. NỘI DUNG ÁN LỆ “[4] Theo Tờ di chúc đề ngày 16/5/1998, cụ M và cụ B cho bà Œ điện tích đất là 15 công tâm lớn. Mặc đù di chúc không ghỉ diện tích đất cụ thể, chỉ ghỉ là 15 công tâm lớn nhưng có nêu tứ cận của khu đất: Mặt tiền giáp Kênh N, Đông (hậu) giáp Nguyễn Văn L1, Bắc giáp Lý Tùng HI, Táy giáp Quách Văn M2. Như vậy, phần đất bà Œ được cha, mẹ cho là đất có khuôn viên, xung quanh tiếp giáp với kênh N và đất của các hộ dân khác, hiện nay không có tranh chấp về tứ cận. Sau khi cụ M chết, tại Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004 và Tờ di chúc ngày 09/9/2006 cụ B đã thể hiện ý chí cho bà Œ toàn bộ diện tích 32. 500w? đất, điều này phù hợp với việc năm 1998 vợ chồng cụ M, cụ B lập di chúc cho bà Œ đất theo khuôn viên. [5] Tờ di chúc đề ngày 16/5/1998 do cụ M và cụ B lập có chữ ký của các con (trong đó có ông U) và xác nhận của chính quyền địa phương, Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004, có chữ ký của các con (không có chữ ký của Ông U) và xác nhận của chính quyên địa phương, Tờ di chúc đê ngày 09/09/2006 có xác nhận của chính quyên địa phương thê hiện tại thời điểm lập di chúc và họp gia đình các con của cụ M, cụ B không ai có ý kiễn phản đối việc hai cụ cho bà GŒ toàn bộ phần đất tranh chấp, đều xác nhận do bà GŒ sông chung với cha mẹ từ nhỏ nên cha, mẹ và các anh chị em thống nhất cho bà G quản lý đát đề thờ phụng cha, mẹ. Riêng ông U cho rằng ông U được cụ M, cụ B tặng cho đất từ năm 129 nên ngày 15/11/2000, ông U được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất nhưng ông U không xuất trình được chứng cứ chứng mình có việc cha mẹ tặng cho đát. /8 M, Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thầm và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào nội dụng của di chúc, biên bản họp gia đình, lời khai của các con cụ M, cụ B và quá trình quản, lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1998 của bà Œ cũng như việc kê khai, đăng ký đất từ đó cháp nhận yêu câu khởi kiện của bà G, công nhận bà Œ được hưởng thừa kế đối với phân đất là di sản của cụ M, cụ B là có căn cứ. ” @LuATsƯ rpvụ 6 lMietgdlwsả Web: fdvn vn -fđvniawfirmvm 289
Án lệ
Án lệ số 72/2024/AL về việc xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất trong trường hợp di chúc không thể hiện diện tích đất cụ thể
Số hiệu: 72/2024/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2024
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.