Án lệ

Án lệ số 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có th

Số hiệu: 71/2024/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2024
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

LUẬT SƯ FDVN TỔNG LƯỢC ÁN LỆ FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH ÁN LỆ SỐ 71⁄2024/AL VỀ VIỆC ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN VỚI LÝ DD SỰ VIỆC Đà ĐƯỢC GIẢI QUYẾT BẰNG QUYẾT ĐỊNH CÚ HIỆU LỰC CỦA C QUAN NHÀ NƯỚC CÚ THẤM QUYỀN VÀ KHÔNG THUỘC THẤM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TDÀ (ÁP DỤNG TỪ NGÀY 15/6/2024) NỘI DUNG ÁN LỆ "[3] Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N có Quyết định giải quyết khiếu nại số 1627/GD.CT.UBH, bác đơn khiếu nại của ông T về việc đòi lại diện tích đất 2.152,15m? mà ông T đã viết giấy cho bà C ngày 08/12/1987. Không đồng ý với Quyết định này, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh D. Ngày 19/12/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có Quyết định giải quyết khiếu nại số 4835/QĐ.CT.UBT, với nội dung: Công nhận quyết định số 1627/0D.CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N về việc giải quyết khiếu nại của ông T và bà C là đúng với quy định của pháp luật; bác đơn khiếu nại của ông T. [4] Như vậy, diện tích đất bà H tranh chấp với bà C đã được giải quyết tại Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có hiệu lực thi hành. [6] Do dó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tai điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bo luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/GĐST-DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật là không có cơ sở." ` rk , , —©#%wA kì LẠ , , TINH HUONG PHAP LY Ầ CLAI PHAP PHAP LY 8i Tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải Trường hợp này, Toà án phải đình chỉ giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải nhà nước có thầm quyền, Nguyên đơn tiếp tục quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp quyền sử quan nhà nước có thẩm quyền và không dụng đất đó và yêu cầu huỷ quyết định đã có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn không đứng tên trên giấy chứng sÌề — nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp. @ NỈ Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn Tài liệu nghiệp vụ l&Ñ TẤN NIỆ) số T1/2024/AL' Về việc đình chỉ giải LqgYẾt vụ án với lý 0 Sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cợ quan nhài Hừốc có thâm quyền và không thuộc thầm `quyềnsgiả iquyết của Tòa án Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 20, 21, 23 tháng 02 năm 2024 và được công bố theo Quyết định số 119A/QĐ-CA ngày 15 thẳng 5 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhán dứn tôi cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thắm SỐ, 14/2022/DS-GĐT ngày 28/4/2022 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao về vụ án “7i ranh chấp quyên sử dụng đất và yêu câu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của rỦy ban nhán đán” giữa nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H với bị đơn là bà Nguyễn Thị C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 04 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 3, 4 và 6 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huống án lệ: Tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thâm quyền. N guyên đơn tiếp tục khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất đó và yêu cầu hủy quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thâm quyền. Nguyên đơn không đứng tên trên giấy chứng nhận quyên sử dụng đất có tranh châp. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyệt định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thắm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: - Khoản 1, 2 Điều 34 và điểm c, đ khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; - Điều 38 Luật Đất đại năm 1993 (tương ứng với Điều 136 Luật Đất đai năm 2003; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013). Từ khóa của án lệ: “Không thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án”; “Đã được giải quyết bằng te ben định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyển”: “Đình chỉ giải quyết vụ án” NỘI DUNG VỤ ÁN: Tại đơn khởi kiện ngày 08/12/2014 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/5/2015, nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu HỈ trình bày: ! Án lệ này do Hội đồng xét xử gồm 05 Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất. <2 LUẬT SƯ FDVN Wueagslasả web: fdvn.vn -fdvnlawBrm.vn ÍÌ 3/8 Trước đây, cha mẹ của ông Nguyễn Tấn T đà chồng của bà, chết năm 2007) là cụ Nguyễn Tân K và cụ Thái Thị HI nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị S diện tích 20.000ha đất cao su, trong đó diện tích đăng ký theo trích lục địa bộ năm 1973 là 17.000ha, điện tích chưa đăng ký khoảng hơn 4ha. Ngoài ra, cụ K, cụ HÏ còn nhận chuyên nhượng của bà Hứa Thị M diện tích hơn 20. 000ha đất cao su, trong đó diện tích đăng ký theo trích lục địa bộ năm 1973 là 17.000ha, diện tích chưa đăng ký khoảng hơn 4ha. Năm 1975, cụ K, cụ HI đăng ký kê khai sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu trên với chính quyền địa phương. Khi cụ K, cụ HI chêt thì ông T đăng ký, kệ khai ruộng đất và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N, tỉnh Đông Nai câp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/1992. Toàn bộ diện tích đất nêu trên \ gia đình bà luôn quản lý, sử dụng ỗn định. Ngày 08/12/1987, gia đình bà Nguyễn Thị C gặp nhiều khó khăn nên ông T cho bà C tạm thời canh tác trên diện tích đất khoảng 2, 5 sảo đề sản xuất hoa màu làm kinh tế, phụ gia đình. Quá trình canh tác, bà C đã lần chiếm thêm đất của gia đình bà, đồng thời xây dựng nhà kiên cô trên đất mượn. Mặc dù, đất tranh chấp năm 1992 nhưng không hiểu vì sao năm 1993 bà C vẫn kê khai nộp được thuế. Ngày 09/10/1998, bà C làm đơn xin cấp giấy. chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất bà C xin cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đât là bà C mượn của gia đình bà canh tác, đât năm trong hành lang lộ giới và đất đang có tranh chấp nhưng không hiểu sao Hội đồng, xét duyệt cập Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất xã Q lại xác nhận nguồn gốc đất của bà C có “nguồn gốc ông T cho năm 1957 và bà C sử dụng Ô ồn định phù hợp với quy hoạch”. Ngày 09/8/2002, Ủy ban nhân dân huyện N câp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho bà C với diện tích 2.526m”. Ngày 21/12/2006, Ủy ban nhân dân huyện N cấp lại Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho bà C với điện tích 1.962m? đất. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà € trả toàn bộ thửa đất nêu trên, nhưng bà C không trả. Do đó, bà đề nghị Tòa án buộc bả C trả bà diện tích đất nêu trên. Bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Năm 1975, bà từ quê vào miễn Nam lập nghiệp ở xã Q, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Thời điểm đó, gia đình bà gồm có bà, bà Nguyễn Thị H2 (em gái bà), anh Nguyễn Thanh L (con bà). Thời gian đầu lập nghiệp bà xin làm công nhân cạo mủ cho đồn điền cao su do ông Nguyễn Tấn T làm chủ. Tuy nhiên, do gia đình không có đất canh tác và gia đình phát cỏ, canh tác trồng hoa màu (khoai lang, đậu, bắp, ...) trên diện tích đất hiện đang có tranh chấp. Thực tế, bà và gia đình cũng không rõ đất thuộc quyền quản lý của a1. Lúc đó, ông T sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh thỉnh thoảng có về trông coi đất và nói với bà là đất hiện gia đình bà đang canh tác là đất của ông T nên bà có ngỏ lời xin đất này để canh tác và được ô ông z T đồng ý. Ngày 08/12/1987, ông T viết “Giấy xác nhận” cho bà điện tích đất nêu trên. Sau khi ông T viết giấy cho đất, gia đình bà tiếp tục quản lý và canh tác trông tiêu, cà phê trên đất. Năm 1994-1995, ông T có nhu câu nới rộng diện tích trông cao su nên có liên hệ với Ủy ban nhân dân xã mời các hộ sinh sông trên đất tiệp giáp với vườn cây cao su của ông T đề thương lượng đền bù (trong đó có hộ gia đình bà) nhưng gia đình bà không đồng ý ý thương lượng vì ngoài diện tích đất nêu trên gia đình bà không còn diện tích đât nào khác để canh tác. Năm 1995, ông 4 LUATsƯ rDvx 2 IMietyiesá Web: fđvn vn - ídyniawfrm.vn 3/9 T đã tranh chấp với bà. Năm 2000, gia đình ông T lại tiếp tục kiện gia đình bà đòi lại đất. Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N ban hành Quyết định sỐ 1627/QĐ và ngày 19/12/2001, Ủy ban nhân dân tính Ð ban hành Quyết định số 4§35/QĐÐ bác đơn khiếu nại của ông T về việc tranh chấp diện tích đất đã cho gia đình bà từ năm 1987. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu của bà H về việc đòi điện tích đất nêu trên. Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ là số 41/2015/TLST-DS ngày 14/10/2015 về việc “Tranh chấp quyên sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân” giữa: Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1953; địa chỉ: 271/8 đường N, Phường X, quận P, Thành phô Hồ Chí Minh. Người đại điện theo ty quyên của bà H: Ông Sin Thoại K, sinh năm 1973 (theo văn bản ủy quyên ngày 22/12/2014); Hộ kháu thường trú. 1/5.J đường P, Phường V, quận Œ, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ liên lạc: 244 đường B, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) Bị đơn: Bà Nguyên Thị C, sinh năm 1939, địa chỉ: F3⁄113 ấp S, xã Q, huyện N, tỉnh Đông Nai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên gưem, *, Ủy ban nhân dân tỉnh Ð; địa chỉ: số 02 đường Ư, phường T, thành phố B, tỉnh Đông Nai. 2 Ủy ban nhân dân huyện N, tình Đông Nai; địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện N, tỉnh Đông Nai. 3. Anh Nguyễn Thanh L, địa chỉ: F3⁄113 ấp S, xã Q, huyện N, tỉnh Đồng Nai. 4. Bà Nguyễn Thị H2, địa chỉ: F3/113 ấp S, xã Q, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cẩu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự này Tòa án cấp sơ thâm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo. Ngày 12/12/2018, bà H kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên. Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sô 154/2019/QĐ- PT ngày 08/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị Thu l1, hủy Quyết định đình chỉ giải quyêt vụ ăn dân sự sô 33/201 J8QÐST DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đông Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đông Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau khi có Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối VỚI quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh ĐẰng Nai kiến nghị <Luár SƯ FDVN IMietyiesá Web: fđvn vn - ídyniawfrm.vn 3 580 với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề n ghị kháng nghị Quy ết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyêt vụ án sô 154/2019/QĐ-PT ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thâm. Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 06/2022/KN-DS ngày 14/3/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định giải quyêt việc kháng cáo đôi với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sô 154/2019/QĐ-PT ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm, hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự SỐ 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đông Nai. Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại điện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [II Diện tích 1.962m? đất các đương sự có tranh chấp là thửa đất số 72, tờ bán đồ sô L7 (thửa cũ 56, tờ bản đồ số 12), tờ bản đồ số 17, tại xã Q, huyện N, tỉnh Đồng Nai. H Năm 1995, thửa đất nêu trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Tấn Tà chồng bà H) đã tranh chấp quyên sử dụng thửa đất với bà C nên thâm quyền giải quyết. tranh chấp đất đai thuộc Ủy ban nhân dân huyện N, theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. [3] Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N có Quyết định giải quyết khiếu nại SỐ 5 1627/QĐ. CT.UBH, bác đơn khiếu nại của ông T về việc đòi lại diện tích đất 2.152, 15m? mà ông T đã viết giấy cho bà C ngày 08/12/1987. Không đồng ý với Quyết định này, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð. Ngày 19/12/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có Quyết định giải quyết khiêu nại số 4835/QĐ. CT.UBT. với nội dung: Công nhận quyết định sô 1627/QĐ. CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N về việc giải quyết khiếu nại của ông T và bà C là đúng với quy định của pháp luật; bác đơn khiếu nại của ông TT. [4J Như vậy, diện tích đất bà H tranh chấp với bà C đã được giải quyết tại Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có hiệu lực thi hành. [5] Ngày 04/8/2002, bà C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/12/2006, bà C được cấp đổi lại Giây chứng nhận quyên sử dụng đất. [6] Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm ce khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng đân sự năm 2015 là đúng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phô Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết ' vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật là không có cơ sở. Vì các lẽ trên, << LUATsƯ rpvx 4 RMkeezelesả Web: fdvmn.vn - fdvnlawfrm.vn 3ð QUYÉT ĐỊNH: ___ Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 2 Điều 343, Điều 344 Bộ luật Tô tụng dân sự. 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 06/2022/KN-DS ngày 14/3/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao 2. Hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án SỐ 154/2012/QĐ- l4 ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phó Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp quyên sử dụng đất và yêu câu húy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân ` giữa nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H với bị đơn là bà Nguyễn Thị C và những người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan khác. 3. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐÐST - DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. NỘI DUNG ÁN LỆ "3J Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân đán huyện Necó Quyết định giải quyết khiếu nại số 162 TÓP, C1.:UBH. bác đơn khiếu nại của ông T về việc đòi lại điện tích đất 2.152,I 3mˆ mà Ông T đã viết giấy cho bà C ngày 08/12/1987. Không đông ý với Quyết định này, ông T tiếp fực khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân đân tỉnh Ð. Ngày 19/12/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có Quyết định giải quyết khiếu nại số 4835/QP. CT:UBT, với nội dung: Công nhận quyêt định SỐ 1627/00. CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N về việc giải quyết khiếu nại của ông T và bà C là đúng với quy định của pháp luật; bác đơn khiếu nại của ông Tì [4J Như vậy diện tích đất bà H tranh chấp với bà C đã được giải quyết tại Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có hiệu lực thi hành. r 6j Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đông Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo gu định tại điểm e khoản 1 Điễu 192 và điểm g khoản 1 Điểu 217 Bộ luật Tổ tụng đân sự năm 2015 là đúng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 5 3/201 8/QÐS T-DS ngày 31⁄10/2018 của Tòa án nhân dán tỉnh Đông Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa ăn nhân dân tỉnh Đông Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật là không có cơ sở. c5 LUẬT SƯ FDVN Wukeegelesả web: flrn vn - fdvnlawfirm.vn mi 582

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.