Án lệ

Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh

Số hiệu: 69/2023/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2023
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ B9/2023/AL VỀ THẤM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THẢ THUẬN BẢO MẬT THÔNG TIN VÀ KHÔNG CẠNH TRANH (ÁP DỤNG TỪ NGÀY 01/11/2023) NỘI DUNG ÁN LỆ [8]... Bà T cho rằng “Tranh chấp về NDA (Thoả thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh) là tranh chấp sẽ do Toà án giải quyết". Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”.Công ty R là thương nhân có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Do đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết của VIAC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nội dung này đã được Hội đồng trọng tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phần A, trang 5 và Phần C, trang ó của phán quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”. Trong khi đó, tại Bản tự bảo vệ cũng như trong suốt quá trình tổ tụng trọng tài, bà T không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyền của Trọng tài mà vẫn tiếp tục tố tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T đã mất quyền phản đối về thầm quyền của Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NG-HĐTP. Bên cạnh đó, bà T cho rằng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp lao động thuộc thầm quyền giải quyết của Toà án, vì NDA là một phần không thể tách rời của các Hợp đồng lao động giữa bà T và Công ty R. Tại đoạn 11 Bản luận cử đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T đã khẳng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công ty R và bà T. Do đó, Hội đồng xét đơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi kỷ kết. ` rv L2 , —©%yA kì L2 L2 z TINH HUONG PHAP LY Hi CIAI PHAPD PHADPD LY Người lao động và người sử dụng lao động ký kết thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh về việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động không được làm công việc tương tự hoặc công việc cạnh tranh với người sử dụng lao động trong thời hạn nhất định, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng Trọng tài thương mại. Trường hợp này, Tòa án phải xác định tranh chấp về thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh giữa hai bên là thỏa thuận độc lập với hợp đồng lao động, thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại. b Nh, Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn K-A(\ LÀN, L RÀ LỆ số øamwAra bàñ¡ Quái gh1ệ0ay ti thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tín và không cạnh tranh Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bổ theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng T0 năm 2023 của Chánh án Tòa ứn nhân dân tôi cao. Nguồn án lệ: Quyết định sỐ 755/2018/QĐ- POTT ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân Thành phó Hỗ Chí Minh về việc dân sự “Yêu câu hủy phán quy ết trọng tài”; người yêu cầu là bà Đỗ Thị Mai T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH R. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 8 phân “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huỗng án lệ: Người lao động và người sử dụng lao động ký kết thỏa thuận bảo mật thông tin va không cạnh tranh về việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động không được làm công việc tương tự hoặc công việc cạnh tranh với người SỬ dụng lao động trong thời hạn nhất định, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết băng Trọng tài thương mại. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định tranh chấp về thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh giữa hai bên là thỏa thuận độc lập với hợp đồng lao động, thuộc thâm quyên giải quyết của Trọng tải thương mại. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: - Khoản 2 Điều 2, Điều 13 và khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tải thương mại năm 2010; - Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015; - Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại. Từ khóa của án lệ: “Thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh”; “Thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tải thương mại”; “Thâm quyền của Trọng tài thương mại”. NỘI DUNG VỤ VIỆC: ' Án lệ này do Thâm phản Nguyễn Thị Thùy Dung, Phó Chánh án Tòa án nhãn dân Thành phố Hỏ Chí Minh để xuất, <@LUÁT sƯ FDvN l Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. 565 Ngày 10/10/2015; Công ty TNHH R và bà Đỗ Thị Mai T ký kết hợp đồng lao động với thời hạn mười hai (12) tháng (từ ngày 10/10/2015 đến 31/10/2016). bà T làm việc tại Công ty R với vị trí là Trưởng bộ phận tuyên dụng. Ngày 21/10/2015, Công ty R và bả T đã ký kết Thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh (sau đây viết tắt là NDA), trong đó khoản Ì Điều 3 NDA có nội dung: “??ong quá trình cá nhân được tuyên dụng hoặc làm việc với Công ty R và trong thời gian mười hai (l2) tháng đương lịch sau khi chấm dứt Tuyên dụng hoặc kết thúc làm việc với Công ty R không xét đến !guyên nhân chẩm dn tuyên dụng hoặc kết túc làm việc, cả nhan đồng ý không, trực tiếp hoặc giản tiếp về trên toàn bộ phạm vi lãnh thỏ, thực hiện công việc lương tự công việc hoặc về bản chất tương tự công việc vào bất kỳ công việc kinh doanh nào cạnh tranh với L.vn (...), đang hoặc trong Tương lai sẽ cạnh tranh với công việc kinh doanh của L.vn, Công ty R và/hoặc các đơn vị liên kết và các đổi tác của Công ty R”. Các bên cũng thỏa thuận nếu xây ra tranh chấp sẽ được giải quyết bằng phán quyết trọng tài. Ngày 01/11/2016, Công ty R và bà T tiếp tục ký kết hợp đồng lao động có thời hạn là 12 tháng (từ ngày 01/11/2016 đến 31/10/2017) với vị trí là Trưởng bộ phận tuyên dụng. Ngày 18/11/2016, bà T chấm dứt Hợp đồng lao động năm 2016 với Công ty R. Ngày 02/10/2017, Côn ty | R đã nộp đơn khởi kiện kèm theo các chứng cử tại Trung tâm Trọng tải Quốc tế Việt Nam (VLAC), theo đó yêu cầu bà T bồi thường cho Công ty R số tiền 205.]97. 300 đồng, bằng 03 (ba) lần tiền lương tháng liên kê trước khi bà T đơn phương chấm dứt Hợp đông lao động năm 2016 vì bà T đã vi phạm khoản 1 Điều 3 NDA. Ngày 19/02/2018, Hội đồng trọng tài thuộc VIAC lập tại Thành phố Hỏ Chí Minh đã ban hành Phán quyết trọng tài số 75/17 HCM có nội dung như sau: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền bồi thường là 205.197.300 VND (Hai trăm lẻ năm triệu một trăm chín mươi bảy ngàn ba trăm đồng). . BỊ đơn phải chịu toàn bộ phí trọng tài của vụ tranh chấp này là 24. Si 000 VND. Do nguyên đơn đã nộp toàn bộ chỉ phí trọng tài nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 24.600.000 VND (Hai mươi bốn triệu sáu trăm ngàn đồng). 3. Bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ khoản tiền nêu tại Mục 1 và Mục 2, Phần IV nêu trên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập phán quyết trọng tài này. Trường hợp bị đơn chậm thanh toán, bị đơn phải tiệp tục chịu lãi chậm trả theo quy định tại Điệu 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, với mức lãi suất 10%6/năm, tương ứng với số tiên chậm trả và thời gian chậm trả. 4. Phán quyết trọng tài này được lập ngày 19/02/2018 tại Thành phố Hà Chí Minh, Việt Nam. Phản quyết trọng tải này có giá trị chung thâm, rằng buộc các bên và có hiệu lực kể từ ngày lập phán quyết. t3 ‹<%® LUẬT SƯ FDVN >—”—.r 566 Không đông ý với phán quyết của Trọng tài, ngày 22/3/2018, bà T đã nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với yêu câu xem xét huỷ toàn bộ nội dung Phán quyết trọng tài số 75/17 HCM ngày 19/02/2018 của VIAC với các lý do sau: - Thoả thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm điều cắm của pháp luật và phán quyết của Trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. - Thủ tục trọng tải trái với các quy định của Luật Trọng tài thương mại. - Vụ tranh chấp không thuộc thâm quyền của Hội đồng trọng tài. - Hội đồng trọng tài sử dụng chứng cứ giả mạo. Tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan. vẫn giữ nguyên ý kiến. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty R đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà T. Đại diện Viện kiêm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Qua ] kiểm sát vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thâm phán đã chấp hành đúng quy định về thâm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định mở phiên họp và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp vả tổng đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng mở phiên họp: Tại phiên họp hôm nay, phiên hợp tiền hành đúng trình tự pháp luật tổ tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quyển và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tổ tụng dân sự. Về nội dung: Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Đễ Thị Mai T vẻ việc hủy phán quyết trọng tài. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Sau khi xem xét toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thâm tra tại phiên họp; nghe ý kiên tranh luận của các đương sự; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đông xét đơn nhận định: [2] Vẻ thủ tục tố tụng: [3] Vẻ thời hiệu nộp đơn yêu cầu: Ngày 19/02/2018 là ngày công bố Phán quyết trọng tài vụ kiện số 75/17 HCM. Ngày 27/02/2018, bị đơn nhận được phản quyết trọng tài và ngày 22/3/2017, bà Đỗ Thị Mai T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy phán quyết trọng tài là còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại. [4] Hội đồng xét đơn nhận định các lý do của bà Đồ Thị Mai T đưa ra để hủy phán quyết trọng tài như sau: [Š] Lý do '“Thoả thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm điều căm của pháp luật” và “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Xét thấy, căn cứ Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trong ⁄ LUẬT SƯ FDVN 3 Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. 567 trường hợp một bền phát hiện có vị phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tô tụng trọng tải và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án”. Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 hướng dẫn Luật Trọng tài thương mại do Hội đồng Thâm phản Tòa án nhân dân tôi cao quy định: “Trường hợp một bên phát hiện có vị phạm quy định hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tải và không phản đối với Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài những vi phạm đó trong thời hạn do Luật Trọng tải thương mại quy định thì mắt quyên phản đối tại Trọng tài, hoặc tại Tòa án đôi với những vi phạm đã biết đó. Trường hợp Luật Trọng tài thương mại không quy định thời hạn thì thời hạn được xác định theo thỏa thuận của các bên hoặc quy tặc tố tụng trọng tài” và “Trường hợp Tòa án xác định vi phạm đã mất quyên phản . đối quy định tại Điều 13L. uật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại khoản 1 Điều nảy thì bên đã mất quyền phân đối không được quyền khiêu nại quyết định của Hội đông trọng ( tài, yêu câu hủy phản quyết trọng tài đối với những vi phạm đã mất quyền phản đôi đó. Tòa án không dược căn cứ vào các vi phạm mà một hoặc các bên đã mắt quyền phản đôi để quyết định chấp nhận yêu cầu của một hoặc các bên”. Điều 9 Quy tắc tô tụng trọng tài của VIAC có hiệu lực từ ngày 01/3/2017 quy định: “Trong trường hợp bị đơn cho rằng thỏa thuận trọng tài không tồn tại, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì bị đơn phải nêu rõ trong Bản tự bảo vệ. Nếu hị đơn không nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ thì bị đơn mất quyền phản đối” . Trong Bản tự bảo vệ đề ngày 04/12/2017 của bà T cũng như trong suốt quá trình tổ tụng trọng tải, bàT không hè đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thoả thuận trọng tài. Như vậy, bà T' đã mât quyền phản đói về thoả thuận trọng tài theo quy định nêu trên. [6] Bên cạnh đó, bà T cho rằng NDA vi phạm quy định về quyền làm việc của người lao động, vi phạm các hành vì bị nghiêm câm theo Luật Việc làm năm 2013 mà Hội đồng trọng tải vẫn công nhận NDA là Hội đồng trọng tài đã vị phạm nguyên tắc tuân thủ pháp luật của người lao động cũng như điêu câm tại Luật Việc làm năm 2013. Xét thấy tại Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cầm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không, bên nào được áp đặt, câm đoán, cưỡng ép, đe doa, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đôi với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Trong trường hợp này, giữa bà T với Công ty R đã tự nguyện kỷ kết, khi ký bà T là người có đây đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật, không bị ép buộc, lừa dối hay á áp đặt ý chí đề bà T phải chấp nhận ký NDA. Do đó, NDA có hiệu lực. Việc Hội đồng trọng tài công nhận hiệu lực của NDA là hoàn toàn đúng pháp luật, [7] Lý do hủy phán quyết trọng tài vì “Thủ tục trọng tài trái với các quy định của Luật Trọng tài thương mại”. Bà T cho rằng thủ tục trọng tài trái với quy định của Luật Trọng tải thương mại bởi: “Phán quyết đã được lập vào ngày thứ 31 kế từ ngày diễn ra phiên họp của Hội đồng trọng tài” và “Phán quyết trọng tài 4 ‹<%Ẳ LUẬT SƯ EDVN Mpapfiuá, tsb: Tổmmn -Tồrdlawfirmrn 568 đã không được gửi đền bà ngay sau ngày ban hành tức phải ngày 20/01/2018”. Căn cử khoản 5 và khoản 6 Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc n gày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó” và “Thời điểm kết thúc ngày cuỗi cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó”, Phiên họp cuối cùng giải quyết vụ tranh chấp giữa Công ty R và bà T được tô chức vào ngày 19/01/2018, tuy nhiên do ngày 18/02/2018, ngày thứ 30 kể từ ngày diễn ra Phiên họp cuối cùng là ngày Chủ nhật, tức ngày nghỉ cuối tuần, nên Hội đồng trọng tải ban hành phán quyết vào ngày 19/02/2018 là vẫn còn trong thời hạn theo quy định viện dẫn nêu trên. Ngày 20/02/2018 và 21/02/2018 là ngày nghỉ lễ Tết Nguyên đân, nên theo quy định tại khoản 5 Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hạn gửi phán quyết không thể kết thúc vào các ngày này, mà kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ của ngày làm việc tiếp theo, tức ngày 22/02/2018. Do đó, phán quyết được gửi cho các bên trong ngày 22/02/2018 là vẫn còn trong thời hạn quy định tại Luật Trọng tài thương mại. [8] Lý do “Vụ tranh chấp không thuộc thầm quyên của Hội đồng trọng tài”: Bà T cho rằng. *Tranh chấp về NDA là tranh chấp sẽ do Toà án giải “quyết”. Căn cử khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tải thương mại quy định: “Thâm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tải: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”. Công ty R là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Do đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thâm quyền giải quyết của VIAC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nội dụng này đã được Hội đồng trọng tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phân A, trang 5 và Phân C, trang 6 của phản quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài qhương mại quy định: _ Trường hợp bị đơn cho răng vụ tranh chấp không thuộc thâm quyên của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tải, thoả thuận trọng tải vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thê thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”. Trong khi đó, tại Bản tự bảo vệ cũng như trong suốt quả trình tô tụng trọng tài, bà T không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyên của Trọng tài mà vẫn tiếp tục tô tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T đã mất quyền phản đối về thầm quyền của Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ- HĐTTP. Bên cạnh đó, bà T cho rằng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp. lao động thuộc thâm quyên giải quyết của Toà án, vì NDA là một phần không thể tách rời của các Hợp đồng lao động giữa bả T và Công ty R. Tại đoạn 11 Bản luận cứ đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyên và lợi ích “hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T đã khăng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công ty R và bà T. Do đó, Hội đồng xét đơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết. [9] Lý do “Chứng cứ đo các bên cụng cấp mà Hội đông trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo”: Xét thấy, Công ty R đã cung cập cho Hội đồng <&LUẬT SƯ FDYN 3 569 Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. trọng tải và bà T: Thư xác nhận của Ngân hàng TNHH Một thành viên Z (Việt Nam) và Phiếu lương tháng liền kẻ trước hành vi vi phạm NDA của bà T. Các chứng cứ này là các tải liệu do Ngân hàng Z và Công ty R xác nhận nên không thể xem là giả mạo. Hơn nữa căn cứ khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại, đây là phần nội dung, không thuộc thâm quyền của hội đồng xét đơn. [10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phô Hỗ Chí Minh tham gia phiên hợp có ý kiến: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc hủy phản quyết trọng tài. Dề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của hội đồng xét đơn nên chấp nhận. [I1] Từ những nhận định trên không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Mai T. (12] Căn cử khoản 3 Điều 39 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thì trường hợp của bà Đỗ Thị Mai T phải chịu lệ phí Tòa án, tuy nhiên trong phần danh mục lệ phí Tòa án thì lại không quy định rõ đối với loại việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài lệ phí là bao nhiêu. Vì vậy, bà Đỗ Thị Mai T không phải chịu lệ phí. Bởi các lẽ trên, __ Căn cứ khoản 2 Điều 31, điểm a khoản 3 Điều 38, khoản 3 Điều 414 và Điêu 415 Bộ luật Tô tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản ] Điều 5, điểm g khoản 2 Điều 7, khoản 2 Điều 16, Điều 60. khoản 2 Điều 68, khoản 1 Điều 69. Điều 71, Điều 72 Luật Trọng tài thương mại; Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tải thương mại. QUYẾT ĐỊNH: 1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Mai T về việc hủy Phán quyết trọng tài sô 75/17 HCM của Hội đồng trọng tải thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) lập ngày 19/02/2018 tại Thành phố Hỗ Chí Minh. 2, Quyết định nảy là quyết định cuỗi cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, tức ngày 12 tháng 6 năm 2018. Các bên, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiêm sát không có quyên kháng nghị. NỘI DUNG ÁN LỆ M/ SJ « . Bà T cho rằng “Tranh chấp về NDA là tranh chấp sẽ do Toà ân giải quy êt ”. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thâm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại ". Công ty R là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Da đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thẩm quyỀn giải quy 'ết của VIÁC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trong tài thương mại. Nội đụng này đã ö ‹<%® LUẬT SƯ FDVN Rdinegddiwud web: Ílyn.vn - fdynlnwirmvE 570 được Hội động trong tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phân A, trang § và Phần C, trang 6 của phán quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại quy định: "Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyên của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”. Trong khi đó, tại Bản tự báo vệ cũng như trong suốt quá trình tô tụng trọng tài, bà T không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyền của Trọng tài mà vẫn tiếp tục tÔ tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T đã mất quyên phản đối về thẩm quyền của Hội đông trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hưởng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 0)1/2014/NQ-HĐTP. Bên cạnh đó, bà T cho răng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, vì NDA là một phân không thể tách rời của các Hợp đông lao động giữa bà T và Công tyÑ. Tại đoạn 11 Bản luận cứ đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T đã khẳng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công ty R và bà T. Do đó, Hội động xét ơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thấm quyên giải quyết của Trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết.” <4 Luâ1 sƯ rpvN 7 ¬ — 571

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.