LUẬT SƯ FDVN TỔNG LƯỢC ÁN LỆ FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH ÁN LỆ SỐ B8/2023/AL VỀ QUYỀN NHẬN DI SẢN BẰNG HIỆN VẬT LÀ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI THỪA KẾ LÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI (ÁP DỤNG TỪ NGÀY 01/11/2023) NỘI DUNG ÁN LỆ “[5]... Như vậy, nếu bà Hồ không được quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng được quyền chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thầm căn cứ Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 để xác định bà H1 không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế của bà H1 bao gồm nhà, đất trên diện tích 485,33m cho ông D và ông D thanh toán cho bà Hồ giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà với số tiền 15.822.058.210 đồng là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại thời điểm xét xử phúc thầm Luật Nhà ở năm 2014 đã có hiệu lực. Theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 thì bà Hồ đủ điều kiện nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam. Do pháp luật thay đổi nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và giao toàn bộ hiện vật ` với phần thừa kế cho bà HI mới đúng” Là TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ -œ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ Người để lại di sản là quyền sở hữu Trường hợp này, Tòa án áp dụng Luật nhà ở và quyền sử dụng đất chết Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm trước ngày Luật Đất đai năm 2013 và 2014 đề giải quyết. - Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực Trưởng hợp có người thừa kề là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thi người thừa kế được nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở khi đủ điều kiện nhận nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2014 và di sản có thể phân chia bằng hiện vật. » mi Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn pháp luật. Tranh chấp về chia thừa kế tài sản được Tòa án giải quyết tại thời điểm Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật. FDVN LAW FE]|IANHLE só 68/2023/AL: TâmiUbệp tự h Ên vật là nhà ở của người thừa kế là người định cư ở nước ngoài Được Hội động Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày l8 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QÐ-CA ngày 01 thắng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân lỗi cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm SỐ 06/2019/2S-GĐT ngày 18/3/2019 của Hội đông Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “?ranh chấp thừa kế, đôi công sức đóng góp nuôi đhưỡïng, trông nom, bảo quản nhà, đất và đòi nhà, đất" „ giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H với bị đơn là bà Lý Lan HI; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 5 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình hung án lệ: Người đề lại di sản là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử đụng đất chết trước ngày Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật. Tranh chấp về chia thừa kế tài sản được Tòa án giải quyết tại thời điểm Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án áp dụng Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 để giải quyết. Trường hợp có người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì người thừa kế được nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở khi đủ điều kiện nhận nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2014 và di sản có thê phân chia bằng hiện vật. Quy định cúa pháp luật liên quan đến án lệ: - Điêm d khoản 1 Điều 169; Điều 186 Luật Đất đai năm 2013: - Khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014. Từ khoá của án lệ: *Người Việt Nam định cư ở nước ngoài”; “Điều kiện nhận nhà ở”, “Luật áp dụng”. NỘI DUNG VỤ ÁN: I. Vụ án yêu cầu chia thừa kế: ' Án lệ này đo GS.TS. Đề Văn Đại, Trường Đại học Luật Thành phổ Hỗ Chí Minh đề xuất. ] ‹<%Ẳ LUẬT SƯ EDVN 555 Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. Tại đơn khởi kiện ngày 24/8/2009, ngày 24/9/2009; bổ sung ngày 22/10/2009 và trong quá trình tô tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H trình hày: Cha mẹ bà là cụ Lý Vĩnh K, cụ Nguyễn Thị B chung sống với nhau có một người con chung là bà Nguyễn Tủy H. Năm 1950, cụ K vả cụ B không còn chung sông với nhau nữa. Sau đó, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Ngọc H2 và có một con chung là bà Lý Lan HI. Nguồn góc nhà, đất tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phô Hồ Chí Minh là của cụ K, cụ H2. Cụ K chết năm 1978, cụ B chết năm 2000 và cụ H2 chết năm 2009. Cụ K, cụ B và cụ H2 chết không để lại di chúc. Thực tế, Bản án dân sự phúc thâm SỐ 6/DS-PT ngày 26/6/1981, Tòa Phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chỉ Minh đã xác định khối tải sản chung của cụ K, cụ H2 là ngôi nhà 151B đường Ở (nay là đường N), phường M, quận P, Thành phô Hồ Chí Minh. Đồng thời, đã chia cho cụ H2 được sở hữu toản bộ hiện vật gôm ngôi nhà nêu trên (là tài sản gắn, trên đât) và một số tư liệu sinh hoạt trong căn nhả và phải hoàn lại cho bên thừa kế một số tiền để được trọn quyền sở hữu ngôi nhà. Bản án chưa chia quyền sử dụng đất thổ cư theo bằng khoán điền thổ số 1947 có diện tích 500m? trên đất có căn nhà số 151B đường G và quyên sử dụng đất thổ cư theo bằng khoán điên thô số 1948 có diện tích 440m” là tài sản chung của cụ K, cụ H2. Do đó, phần đất nêu trên vẫn là tài sản chung của cụ K, cụ H2. Hai bằng khoán điền thô số 1947 và số 1948 lập năm 1970 không còn phản ánh đúng với diện tích đất hiện tại, nên bà H và bà HI thống nhất dùng bản vẽ hiện trạng căn nhà 151B do Tòa án yêu cầu cơ quan chức năng lập ngày 11/3/2011 và đã được Ủy ban nhân dân quận P kiêm tra bản vẽ làm cơ sở để xác định, Nay bả yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, cụ thẻ yêu cầu chia và nhận hiện vật diện tích đất là 120m” (chiều ngang 7m giáp với hẻm 151B đường N và chiều dài 17,14m sát ranh đất nhà 151C đường N của ông Trần Quốc H3). Bị đơn là bà Lý Lan HI ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Kim L đại diện trình bày: Bà thông nhất trình bày trên của bà H về quan hệ nhân thân của cụ Lý Vĩnh K. cụ Nguyễn Thị B và cụ Nguyễn Ngọc H2 và nguôn gốc nhà, đất tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ K, cụ H2 chết không để lại di chúc. Do vậy, bà đại diện cho bà Lý Lan HI đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H yêu câu được chia và nhận phân di sản thừa kế là diện tích đất 120m? (chiều ngang 7m giáp với hẻm 151B đường N và chiều đài 16,14m sát ranh đất nhà 151C đường N của ông Trần Quốc H3). 2. Vụ án đòi công sức, đóng góp nuôi dưỡng, trông nom bảo quản nhả đất: Theo đơn đề ngày 29/01/2010 của ông Nguyễn Quang D và trong quá trình tô tụng bà Trần Thị Thu H4 đại diện theo ủy quyên trình bày. Nguồn gốc đất tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phó Hà Chí Minh là của cụ Nguyễn Ngọc H2, cụ Lý Vĩnh K theo bằng khoán điện thỏ !.3 <%® LUẬT SƯ FDVN ¬ ——== 556 số 1947, diện tích 500m, liền kể với bằng khoán điền thổ số 1948, diện tích 440m?. Hai bằng khoán này, do cụ K và cụ H2 đứng tên sử dụng từ năm 1970. Cụ H2 là dì ruột của ông Nguyễn Quang D. Ông D sống với cụ K, cụ H2 tại căn nhà nêu trên từ năm 1971. Cụ H2 có một người con, có giấy khai sinh hợp pháp là bà Lý Lan HÌ. Sau khi cụ K chết, bà H1 xuất cảnh bất hợp pháp sang Hoa Kỷ từ năm 1978. Cụ H2 là người duy nhất trong nhà, thường xuyên đau yếu và khó bảo quản đất đai, nhà cửa và đề phòng trường hợp bị bệnh nặng, cụ H2 đề nghị ông D chuyên hộ. khẩu về sống với cụ để bảo quản tài sản. Ôn ø D đã chính thức chuyển hộ khẩu về nhà cụ H2 ngảy 12/02/1985. Theo yêu cầu của cụ H2 thì năm 1984, ông D đã bán nhà sô 524/27 đường K, phường B, quận P để chuyên vẻ nhà 151B đường N giúp đỡ nuôi dưỡng và chăm sóc cụ H2 cho đến khi cụ H2 qua đời vào tháng 3/2009 tại căn nhà số 151B nêu trên. Năm 1998, cụ H2 xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ. Trước khi xuất cảnh, cụ H2 có ủy quyền cho ô ông D quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm trông coi nhà, đất nêu trên theo Hợp đồng ủy quyền lập tại Phòn g Công chứng A Thành phó Hồ Chí Minh ngày 03/01/1998. Cuỗi năm 2006, cụ H2 về Việt Nam tạm trú tại căn nhà 151B đường N, phường M, quận P được 02 năm. Sau đó, cụ H2 muôn ở lại Việt Nam sinh sông, nên ông D có làm thủ tục bảo lãnh cho cụ H2 nhập hộ khâu. Cụ H2 già yếu, thường xuyên đau ôm, một mình ông D chăm sóc, nuôi dưỡng và đưa cụ H2 đi khám chữa bệnh. Ngày 21/3/2009 cụ H2 mắt, một mình ông D phải lo toàn bộ ma chay, hỏa táng cho cụ H2 với số tiên là 26.000.000 đồng. Tháng 6/2009, ông D tình cờ phát hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường M, quận P niêm yết Văn bản số 324/CC7 ngày 20/4/2009 của Phòng Công chứng K, Thành phố Hỗ Chí Minh, đính kèm văn bản khai nhận đi sản với nội dung, người đề nghị nhận đi sản là bà H1 con của cụ K, cụ H2. Việc đề nghị nhận di sản, bà HI không có thảo luận và nói với ông D bất cứ việc gì. Nay ông D yêu câu bả Lý Lan HI phải chia cho ông D 180m? đất, là mm công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo ma chay cho cụ H2 trồng nom quản lý nhà đất gần 30 năm. Hơn nữa, bà HI đang cư trú tại Hoa Kỳ, mang quốc tịch Hoa Kỳ và không sinh sống, làm việc tại Việt Nam nên öng D xin được nhận toàn bộ hiện vật và thanh toán giá trị cho bà HI. Tại đơn phản tố ngày 29/7/2014 của bị đơn là bà Lý Lan HI và trong quá trình tổ tụng, bà Trần Ngọc Kim C là đại diện theo ủy quyên trình bày: Về quan hệ “huyết thống và nguồn gốc nhà số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, bà thống nhất với lời khai của nguyên đơn. Năm 2009, sau khi cụ H2 qua đời, bà HI đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản theo Văn bản khai nhận di sản số 10475 đo Phòng Công chứng K, Thành phố Hỗ Chí Minh chứng nhận ngày 16/6/2009; đã kê khai trước bạ theo thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số 1543 của Chi cục thuế quận P ngày 22/6/2009. Khi tiên ‹<%Ả LUẬT SƯ EDVN 3 557 Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. hành thủ tục khai nhận đi sản, öng D cũng biết và không có ý kiến gì về việc khai nhận dì sản của bà HI. Đồng thời, việc khai nhận đi sản đã được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân phường M, quận P và cũng không nhận được bất kỳ một văn bản nào tranh chấp, khiếu nại liên quan đến căn nhà trên. Về chi phí mai táng cho cụ H2 thì bà H1 đã trả cho ông D số tiền 10.000.000 đông, còn những khoản khác bà H1 không có nghĩa vụ phải trả cho ông D. Trong quá trình sử dụng nhà, đất thì ông D kinh doanh quản cà phê thu lợi nhuận từ năm 1985 đến nay. Do đó, không đồng Ỹ với yêu cầu của ông D đòi chia 180m? đất là công sức đóng góp đổi với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo ma chay và trông nom quản lý nhà đât cho cụ H2. Đồng thời, yêu cầu ông Nguyễn Quang D và gia đình phải trả lại nhà đất trên cho bà Lý Lan HI ngay khi bản án. quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành. “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyê ến Thị Hương L1, ông Nguyễn Quang DI, bà Huỳnh Thị Bích N đều thông nhất trình bảy trên của ông Nguyễn Quang D. Tại Quyết định nhập vụ án số 345/2013/QĐST-DS ngày 29/3/2013 của Tòa án nhân dân Thành phô Hỗ Chí Minh đã quyết định nhập vụ án dân sự sơ thâm thụ lý số 11 1/2010/TLST-ST ngày 23/3/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh về việc “Đồi công sức đóng góp, nuôi đưỡng” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Quang D với bị đơn là bà Lý Lan HI vào vụ án dân sự sơ thâm. thụ lý số 16/2013/TLST-ĐS ngày 07/01/2013 của Tòa án nhân đân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H với bị đơn là bà Lý Lan HI. Tại Bản án dân sự sơ thâm số 409/2015/DS-ST ngày 05/5/2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh quyết định: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bả Nguyễn Túy H. 1/ Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Túy H và bà Lý Lan HI (có bà Huỳnh Thị Kim L đại diện theo ủy quyền) như sau: 1.1/ Xác định đi sản thừa kế của cụ Lý Vĩnh É và cụ Nguyễn Ngọc H2 chết để lại là quyên sử dụng đất 698,14m”? tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. 1.2/ Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lý Vĩnh K là eụ Nguyễn Ngọc H2, bả Nguyễn Túy H và bà Lý Lan HI. 1.3/ Bà Nguyễn Túy H được chia và nhận hiện vật điện tích đất 120m” chiều ngang 7m mặt tiền hẻm 151B đường N, phường M, quận P... theo bản vẽ hiện trạng đo Công ty TNHH đo đạc bản đỗ thiết kế xây dựng kinh doanh dịch vụ Q lập ngày 11/3/2011 đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 14/4/2011. ‹<%® LUẬT SƯ FDVN >—”—.r 558 I.4/ Bà Nguyên Túy H được quyền liên hệ các cơ quan chức năng có thấm quyền để làm thủ tục tách thửa đất và đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật. 2/ Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quang D. 2.1/ Xác định ông Nguyễn Quang D có công + sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo toàn bộ ma chay cho cụ Nguyễn Ngọc H2 và trông nñom quản lý nhà đất tọa lạc tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hỗ Chí Minh. 2.2/ Ông Nguyễn Quang D được chia 120m2 đất, có hình đạng chữ L, từ ngoài nhìn vào bên trái giáp ranh đất bà Nguyễn Tủy H được chia và bên phải giáp ranh căn nhà chính 151B đường N ; phường M, quận P theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH đo đạc bản đồ thiết kế xây dựng kinh doanh dịch vụ Q lập ngày 11/3/2011 đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngảy 14/4/2011, là công sức đóng góp đổi với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo toàn bộ ma chay cho cụ Nguyễn Ngọc H2 và trông nom quản lý nhà đất tọa lạc tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phô Hồ Chí Minh. 2.3/ Ông Nguyễn Quang D được nhận toàn bộ hiện vật. đối với phần thừa kế của bà Lý Lan HI bao gôm diện tích đất là 458,14mˆ và phân xây dựng (phần hiện trạng đất còn lại sau khi chia cho bà H và ông D) theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH đo đạc bản đồ thiết kế xây dựng kinh doanh dịch vụ Q lập ngày 11/3/2011 đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 14/4/2011, do bà H1 không đủ điều kiện đứng tên quyền sở hữu nhà, đất theo quy định. 2.4/ Ông Nguyễn Quang D có trách nhiệm thanh toán cho bà Lý Lan HI toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phó Hà Chí Minh do bà HI được hưởng thừa kế là 23.476.516.675 đồng (hai mươi ba tỷ bốn trăm bảy mươi sảu triệu năm trăm mười sáu ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đông), trong thời hạn 06 tháng kế từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thầm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 13/5/2015, bà Trần Ngọc Kim € là đại diện cho bị đơn kháng cáo không đồng ý chia cho ông D 120m2 đất và giao cho bà HI nhận toàn bộ hiện vật. Ngày 15/5/2015, bà Trần Thị Thu H4 là đại diện cho ông D kháng cáo yêu cầu định giá lại tài sản là nhà, đất tranh chấp. Ngày 20/5/2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phó Hà Chí Minh kháng nghị Bản án dân sự phúc thâm nêu trên theo thủ tục phúc thâm với lý do: Bản á án sơ thâm tuyên cho ông D được nhận toàn bộ hiện vật do bà HỊ được thừa kế của cụ K, cụ H2 và hoàn lại giá trị cho bà HI là sai. Hơn nữa, phân quyết định tuyên ông D thanh toán cho bà HI hưởng thừa kế là 23.476.516.675 đồng trong thời hạn 6 tháng kề từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là không đúng. Tại Bản án dân sự phúc thảm số 71/2016/DS-PT ngày 21/4/2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: <® LUẬT SƯ FDVN 3 559 Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. Chập nhận một phần kháng nghị của Viện drưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; chấp nhận kháng cáo (về việc định giá) của ông Nguyễn Quang D do bà Trần Thị Thu H4 là người đại diện theo ủy quyền; không chấp nhận kháng cáo của bà Lý Lan HH; sửa bản án sơ thâm. l/ Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 là bà Nguyễn Túy H, bà Lý Lan HI. 2/ Xác định di sản thừa kế của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 chết để lại là quyền sử dụng đất 698.33m? tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phó Hồ Chí Minh. Riêng cụ H2 còn để lại phân giá trị căn nhả 151B đường N, phường M, quận P, Thành phô Hồ Chí Minh. 3/ Xác định ông Nguyễn Quang D có công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, la toàn bộ ma chay cho cụ Nguyễn Ngọc H2 và trông nom quản lý nhà, đất tọa lạc tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phô Hồ Chí Minh. Tuyên xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Túy H và bà Lý Lan HI (do bà Huỳnh Thị Kim L đại điện theo ủy quyền) như sau: Bà H được chia và nhận hiện vật điện tích đất 120m”, chiều ngang 7m mặt tiên hẻm 151B đường N, Phường M, quận P (tính từ ranh đất giáp nhà 151C đường N, phường M, quận P) và chiều dài 17,14 tiếp giáp ranh đất nhà sô 151C đường N, phường M, quận P. Thành phố Hỗ Chí Minh, là nhà của ông Trần Quốc H3 theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH C đo vẽ đã được Ủy ban nhân dân ve P kiểm tra bản vẽ ngày 17/12/2015. Bà Nguyễn Túy H được quyền liên hệ các cơ quan c chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa đất và đăng ký để được cấp giây chứng nhận quyên sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật. 2/ Chấp nhận yêu câu của ông Nguyễn Quang D. Ông Nguyễn Quang D được chia công sức đóng góp. bảo quản, giữ gìn khối tài sản tương ứng băng 120m” đất, có hình chữ L., từ ngoài nhìn vào bên trái giáp ranh đất bà Nguyễn Túy H được chia và bên phải giáp ranh căn nhà chính 151B đường N, phường M, quận P (có cạnh chiều ngang phía trước là 2,85m mật tiền hẻm 151B đường N, phường M, quận P; cạnh chiều ngang phía sau là 9,85m; cạnh chiều dài 24,365m tiếp giáp căn nhà chính 151B đường N, phường M, quận P và chiêu dài cạnh còn lại bên trái nhìn vào là 7,225m; theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH € đo vẽ và đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 17/12/2015. 3/ Ông Nguyễn Quang D được nhận toàn bộ hiện vật đối với phân thừa kế của bà Lý Lan H1 được hưởng bao gồm diện tích đất là 458,33m” và phân xây dựng nhà theo bản vẽ hiện trạng do Công ty trách nhiệm hữu hạn C đo vẽ, được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra ngày 17/12/2015. Ông Nguyễn Quang D phải thanh toán cho bà Lý Lan HI toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và giả trị xây dựng ⁄ LUẬT SƯ FDVN ñdinkyruàuả WiEb: fdrnLvn - fdrnlawBrmvm 5 60 nhà tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hỗ Chí Minh, mà bà HI được hưởng thừa kê với số tiên là 15.822.085.210 đồng. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử phúc thâm, bà Lý Lan HI có đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thâm nêu trên. Tại Quyết định số 06/QDKNGDT-VKS- DŠ ngày 18/10/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thâm số 71/2016/DS-PT ngày 21/4/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hỗ Chí Minh; đè nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm hủy bản án dân sự phúc thâm nêu trên và Bản án dân SỰ SƠ thâm số 409/2015/DS-ST ngày 05/5/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh về phản đòi công sức đóng góp nuôi dưỡng, trông nom, bảo quản nhà, đất: giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết sơ thâm lại theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đốc thầm, đại diện Viện kiểm sát nhân đân tôi cao rút kháng nghị về phần tố tụng và đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tối cao. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: HH Tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H và bị đơn là bà Lý Lan HI thống nhất chia cho bà H 120m? đất trong tổng số 698,33m? đất của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 để lại. Do vậy, Tòa án cấp sơ thâm, Tòa án cập phúc thảm ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật (nội dung này, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao KHÔNG kháng nghị). [2] Về việc định giá tài sản: Ngày 01/02/2016, Tòa án cấp phúc thâm định giá lại nhà, đất tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hỗ Chí Minh nhưng không thông báo cho nguyên đơn và bị đơn biết là không đúng với quy định của pháp luật và trái với quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bỗ sung năm 2011 (nay là khoản 4 Điều 104 Bộ luật Tế tụng dân sự 2015). Tuy nhiên, tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỗi cao rút kháng nghị và không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc định giá tài sản trên, nên Hội đồng xét xử giám đốc thâm không xem xét. [3] Đối với việc tính công sức cho ông Nguyễn Quang D: Năm 1978, bà Lý Lan H1 xuất cảnh sang Hoa Kỳ, chỉ còn cụ Nguyễn Ngọc H2 sống tại nhà số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo hỗ sơ kê khai thì từ năm 1982, ông b (cháu ruột cụ H2) đã ở cùng cụ H2 tại nhà 151B đường, N, phường M, quận P và đến năm 1985, ông D và các con đã chuyền hộ khẩu về Ỡ tại địa chỉ này. Năm 1998, cụ H2 xuất cảnh sang Hoa Kỳ và đã làm giấy ủy quyên cho ông ID quản lý, sử dụng căn nhà trên (Hợp đồng ủy quyền có chứng nhận của Phòng Công chứng A Thành phô Hồ Chí Minh ngày 03/01/1998). Đến năm 2007, cụ H2 trở lại định cư tại Việt Nam, ông D là người cam kết bảo lãnh cho cụ H2 làm thủ tục hồi hương về Việt Nam (Theo giấy cam kết của ông D ngày <@@LUäT SƯ FDvN ï Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. 56] 17/12/2007 có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày 18/12/2007). Lúc này, cụ H2 tuôi đã cao, bà HÌ xuất cảnh năm 1978 không ai trông nom cụ H2, nên ông D lả người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ H2 đến khi cụ H2 chết, ông D cũng là người đứng ra tô chức lo toàn bộ ma chay (người đại điện theo ủy quyên của bả HI cũng thừa nhận). L4 Như vậy, có cơ sở xác định ông D là người có công sức trông nom, bảo quản, giữ gìn khối tải sản trên; đồng thời, ông D cũng là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng và mai táng cụ H2. Tuy nhiên, tại Tòa án các đương sự đêu xác định khi ông D quản lý, sử dụng nhà 1§1B đường N. quận P, Thành phô Hồ Chí Minh có kinh doanh quán bán cà phê thu lợi nhuận (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thê số 1657/HKD ngày 31/7/2000). Trong trường hợp này, lẽ ra phải làm rõ công sức bảo quản tài sản, khoản tiền chăm sóc, nuôi dường và mai táng khi cụ H2 chết, đồng thời làm rõ thu nhập từ việc kinh doanh quán bán cả phê đề từ đó xác định công sức của ông D cho phù hợp. Tòa án cấp sơ thậm và Tòa án cấp phúc thắm chưa làm rõ những vấn đề nói trên nhưng chia công SứC bằng hiện vật là 120m trong tổng số 698.33m? đất cho ông D (tương ứng một phân thừa kế như bà Nguyễn Túy H) là không có cơ sở, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà HI. BỊ Đối với việc giao hiện vật là phân thừa kế của bà Lý Lan H1 cho ông Nguyễn Quang D: Theo quy định tại khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013: “Trường hợp tât cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tải sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đói tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở lại Việt Nam quy định tại khoản Ï Điều nảy thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất nhung được chuyê ên nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định... > Theo quy định tại khoản 4 Điều I§6 Luật Đất đai năm 2013: “Trường hợp trong số những người nhận thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đổi tượng được mua nhà ở gắn liên với quyên sử dụng đất ở tại Việt Nam còn những người khác thuộc diện được nhận thừa kế quyên sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất cho từng người nhận thừa kẻ thì những người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ vẻ việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai đề cập nhật vào số địa chính, Sau khi giải quyết Xong việc phân chia thừa kế thì cập Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liên với đất; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhả ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thi phần thừa kế được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều này”. Như vậy, nêu bà " không được quyên câp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng được quyền chuyên nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng ‹ đất thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thâm căn cứ Điều 186 ' Luật Đất đai năm 2013 để xác định bả HI không được câp giây chứng nhận quyền sử dụng đất và giao toàn bộ hiện 8 ‹<%® LUẬT SƯ FDVN >—”—.r 562 vật đối với phần thừa kế của bà H1 bao gồm nhà, đất trên diện tích 485,33m” cho ông D và ông ÐD thanh toán cho bà HT giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà với sô tiên 15.822.058.210 đồng là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại thời điểm xét xử nhúc thâm Luật Nhà ở năm 2014 đã có hiệu lực. Theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 thì bà HI đủ điều kiện nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam. Do pháp luật thay đổi nên Tòa án cấp phúc thâm sửa án sơ thâm và xag toàn bộ hiện vật đối với phân thừa kế cho bà H1 mới đúng. J6] Vi vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hủy một phần bản án dân sự phúc thâm và một phần bản án dân sự sơ thâm nêu trên về chia công sức đóng góp nuôi dưỡng, trông nom, bảo quản nhà đất và giao hiện vật để xét xử sơ thâm lại, đúng quy định của pháp luật. Vị các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343 và Điều 345 của Bộ luật Tổ tụng dân sự; 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/QÐKNGDT- VKS-DS ngày 18/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân đân tối cao. 2. Hủy một phân Bản án, dân sự phúc thâm số 71/2016/S-PT ngày 2 1/4/201 6 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy một phần Bản án dân sự sơ thám số 409/2015/DS-ST ngày 05/5/2015 của Tòa án nhân dân Thành phó Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H với bị đơn là bà Lý Lan HỊ và những người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan về chia công sức đóng ÓP, bảo quân giữ gìn khối tài sản tương ứng bằng 120m? đất cho ông Nguyễn Quang D và việc ông Nguyễn Quang D được nhận toàn bệ hiện vật của bà Lý Lan HI. 3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thâm, đúng quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ: HP) Tà . Như vậy, nếu bà HH không được quyền cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, nhưng được quyền chuyên nhượng hoặc được tặng cho quyên sử dụng đn thừa kế. Tòa án cáp sơ thâm, Tòa án cán phúc thẩm căn cứ Điều l ở6 Luật Đất đai năm 2013 để xác định bà H1 không được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất và giao toàn bộ hiện vật đối với phân thừa kế của bà H1 bao gôm nhà, đát trên diện tích 485, 33mˆ cho ông D và ông ÐD thanh toán cho bà H giá trị quyên sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà với số tiền 15.822.058.210 đồng là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại thời điểm xét xử phúc thâm Luật Nhà ở năm 2014 đã có hiệu lực. Theo khoản Ì và điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 thì bà H1 đủ điêu kiện nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam. Đo pháp luật thay đổi nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và giao toàn bộ hiện vật đổi với phân thừa kế cho bà HI mới đúng, " <4 LUAT sƯ rDvN 8 Mpapfiuá, tsb: Tổmmn -Tồrdlawfirmrn 563
Án lệ
Án lệ số 68/2023/AL về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Số hiệu: 68/2023/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2023
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.