Án lệ

Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh -Mua bán người-

Số hiệu: 66/2023/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2023
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

LUẬT SƯ FDVN TỔNG LƯỢC ÁN LỆ FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH ÁN LỆ SỐ B8/2023/AL VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TỘI DANH “MUA BÁN NGƯỜI” (ÁP DỤNG TỪ NGÀY 01/11/2023) NỘI DUNG ÁN LỆ [73] ..H và C có động cơ, mục đích là đưa phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc giao cho T để T gả bán cho đàn ông Trung Quốc làm vợ và nhận được tiền. H và C không có chức năng môi giới trong việc lấy chồng người nước ngoài, H và C không cố ý đưa người trốn ra nước ngoài và trong vụ án này thì bị hại là chị N1 được các bị cáo C, H coi như một vật trao đổi để lấy tiền..... [5]...giữa H và C có sự bàn bạc về việc đưa phụ nữ sang Trung Quốc bán kiếm lời, C biết chị N1 không có đủ giấy tờ hợp pháp nhưng vẫn đưa chị N1 sang Trung Quốc, giao cho người khác để nhận tiền. C đã trình bày trước đây làm giúp việc ở Macau nhưng chỉ ở nhà, không biết đường ởi lối lại ở Trung Quốc nhưng vẫn nói với chị N1 rằng lấy chồng Trung Quốc sung sướng để dụ dỗ, lừa chị N1 đồng ý cho C và H đưa chị NI đi.. [6] Căn cứ vào hành vi các bị cáo đã thực hiện như mô tả trên, căn cứ vào hậu quả bà NI bị các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C đưa sang Trung Quốc giao cho người đàn ông Trung Quốc để được nhận lợi ích vật chất là tiền. Tòa sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Buôn người” theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo theo khung hình phạt là phủ hợp. TINH HUƠONG PHADP LY ~ CLAI PHAP PHAP LY ï Bị cáo có hành vi lừa gạt, hứa hẹn về Trưởng hợp này, Tòa ân phải xác lợi ích với bị hại làm cho bị hại tin định tội danh của bị cáo là tội “Mua tưởng và tự nguyện theo bị cáo ra bán người” chứ không phải tội “Tổ nước ngoài, sau đó bị cáo giao bị hại chức cho người khác trốn ra nước cho người khác để nhận tiền. ngoài trái phép”. Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn FDVN LAW FlÌ&MÍ SỞ 66/2023/AL! liên àI liệu [VỀ gia nh ội danh “Mua bán người” Dược Hội đồng Thẩm phần Tòa án nhân dân tổi cao thông qua vào ngày 18 thẳng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QD-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chẳnh án Tòa án nhân dân tôi cao. Nguồn án lệ: Bản án hình sự phúc thâm số 86/2022/HS-PT ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Mua bán người” đối với các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 3, 5 và 6 phần “Nhận định của Toà án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huỗng án lệ: Bị cáo có hành vi lừa gạt, hứa hẹn về lợi ích với bị hại làm cho bị hại tin tưởng và tự nguyện theo bị cáo ra nước ngoài, sau đó bị cáo giao bị hại cho người khác để nhận tiền. - Giải pháp phúp lƒ: Trường hợp này, Tòa án phải xác định tội danh của bị cáo là tội “Mua bán người” mà không phải tội “Tổ chức cho người khác trồn đi nước ngoài trái phép”. Quy định của pháp luật có liên quan: - Điều 150 và Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bỗ sung năm 2017); - Nghị quyết số 02/2012/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân đân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình SỰ. Từ khoá của án lệ: “Tội mua bán người”; “Lừa gạt”; “Lấy chồng nước ngoài”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 08/2019, qua mạng xã hội Facebook, Trịnh Thị H quen người phụ nữ tên T (khoảng 30 tuôi) người ở tỉnh Bạc Liêu, hiện đang sinh sông ở Trung Quốc. TchoH biết ở tỉnh Hà Nam - Trung Quốc có nhiều người đàn ô ông Trung Quốc muốn lấy vợ Việt Nam, nều ai có nhu cầu lấy chồng Trung Quốc thì giới thiệu, mỗi trường hợp đưa được người sang Trung Quốc, T sẽ trà cho H 04 vạn nhân dân tệ (khoảng 120.000.0004). L Án lệ này do Vụ Pháp chế vá Quản lý khoa học Tòa án nhân đản tối eaa đề xuất, % LUẬT SƯ FDVN ] Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. 339 Sau khi biết được thông tin, H đăng bài vào hội nhóm “Môi giới kết hôn Trung - Hàn - Việt” trên mạng xã hội [Facebook với nội dung “Hiện có rê người Trung Quốc muốn lây vợ Việt Nam có cô dâu nào thật lòng muốn lấy chồng, tìm kiểm hạnh phúc thì liên hệ” thì H được chị Bùi Thị N sinh năm 1991, trú tại xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương cũng là một trong, những thành viên trong hội nhóm nhắn tin với nội dung “N có đứa em muốn lây chồng Trung Quốc thì giúp đỡ”, đồng thời cho số diện thoại của chị NI để trực tiếp liên lạc, hướng dẫn NÌ kết hiến với người Trung Quốc. Ngày 03/01/2020, H cùng Đặng Thị C (là mẹ nuôi H) đến nhà chị Nguyễn Thị NI, sinh năm 1991, ở xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương trao đôi thông tin về việc kết. hôn với người Trung Quốc, hướng dẫn NI chuẩn bị các giấy tờ như: Hộ chiếu, số hộ khâu, chứng minh nhân dân, giấy xác nhận tình trạng độc thân để làm thủ tục câp visa nhập cảnh vào Trung Quốc. Nếu chị NI và gia đình đồng ý sẽ nhận được tiên sính lễ 60.000.000 đồng từ nhà rê bên Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn TÌ (bố đẻ chị NI) không đồng ý nên giữ lại các giầy tờ của chị NI. Chị NI vì vẫn muốn sang lrung Quốc kết hôn nên liên lạc với H vả được H hướng dẫn đến nhà Đặng Thị C để nói chuyện trực tiếp. Chiều ngày 03/01/2020, khi chị NI đến nhà C, chị NI gặp H và C, nhờ H tìm cách cho chị N] đi sang Trung Quốc. H đã hướng dẫn chị NI chuẩn bị căn cước công dân để H làm hộ chiếu cho NI đi “chưi” sang Trung Quốc, chị N1 đồng ý. Ngày, 06/01/2020, Trịnh Thị H nhờ anh Trần Văn HI (chồng H) đón chị NI ở khu vực câu vượt 789, địa phận phường A, thành phố H. tỉnh Hải Dương lên thành phố Hà Nội làm hộ chiếu cho chị N1. Sáng ngày 07/01/2020, H tiếp tục nhờ anh H] thuê xe taxi đưa chị N1 lên nhà nghỉ Y ở thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. H không nói cho HI biết mục đích việc làm hộ chiếu, thuê xe cho chị N1 đi Lạng Sơn. Ngày 07/01/2020, H đưa cho C 4.500.000đ qua lái xe taxi (không nhớ tên, địa chỉ) đề thanh toán tiên xe từ Hải Dương, lên Lạng Sơn và thanh toán tiên nhà nghỉ, ăn uống của € và NI ở nhà nghỉ Y, số tiền còn thừa C đổi được 300 nhân dân tệ để sử dụng chi phí trên đường đi đến tỉnh Hà Nam - Trung Quốc. Đông thời, H cũng liên lạc với anh VI Văn N2 là chủ nhà nghỉ Y nhờ xếp phòng nghị, thuê xe chở C, NI đi đến tỉnh Hà Nam - Trung Quốc. Ngày 08/01/2020, Trịnh Thị H đã đưa chị Nguyễn Thị NI trốn sang Trung Quốc qua đường mòn biên giới thuộc huyện LI, tỉnh Lạng Sơn, còn C nhập cảnh vào Trung Quốc bằng hộ chiếu qua cửa khâu Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn. Đến điểm hẹn ở Trung Quốc, € và NI tiếp tục đi xe ô tô đến tỉnh Hà Nam - Trung Quốc gặp mặt 01 người đàn ông Trung Quốc (không rõ tên) dự kiến cho chị NI lấy làm chông. Tuy nhiên, khi gặp mặt thì chị NI không đông ÿ ý, H bảo NI ở lại nhà người đàn ông này chờ xem mặt rẻ khác, nêu không đồng ý NI phải trả toàn bộ chị phí H đã bỏ ra để đưa NI đi Trung Quốc. N1 đồng ý ở lại, nhưng do chờ lâu không xem mặt được, người khác nên NI đã đến nhà người quen ở tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc rồi trình báo Công an Trung Quốc đề được về Việt Nam. Ngày 26/3/2020, Trạm Kiểm tra biên phòng xuất nhập cảnh Đông Hưng - Quảng Tây - Trung Quốc bàn giao chị Nguyễn Thị N1 cho Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế ẬT SƯ "web: fdvn1 Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. * Tại Bản án hình sự sơ thâm số 18/2021/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương quyết định: 1. Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C phạm tội '*Mua bán người”. - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 3§ Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Thị H. Xử phạt bị cáo Trịnh Thị H 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2020, - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Thị C. Xử phạt Đặng Thị C 07 (bảy) năm tủ, thời hạn chấp hành hình phạt tủ tính từ ngày tạm giam 30/9/2020. 5. Về trách nhiệm dân SỰ: Buộc bị cáo Trịnh Thị H, › bị cáo Đặng Thị C phải liên dới bồi thường t thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và tốn thất tinh thần cho chị Nguyễn Thị NI số tiên 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); trách nhiệm cụ thể bị cáo Đặng Thị C phải bồi thường 10.000.000đ (mười triệu đồng), bị cáo Trịnh Thị H phải bồi thường 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), Ngoài ra, bản án sơ thầm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. - Ngày 16/4/2021, bị cáo Đặng Thị C có đơn kháng cảo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. - Ngày 16/4/2021, bị cáo Trịnh Thị H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. - Ngày 21/4/2021, bị hại là chị Nguyễn Thị NI có đơn kháng cáo quả hạn với nội dung yêu cầu tăng mức bồi thường danh dự nhân phẩm, tổn thất tỉnh thân lên mức 80.000.000 đồng và yêu cầu bôi thường các khoản tốn thất khác là 100.000.000 đồng. Tại Quyết định giải quyết kháng cáo quá hạn số 36/2021/HSPT-QĐ ngày 17/7/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị NI. Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo và bị hại là chị Nguyễn Thị NI do ông Nguyễn Văn T1 đại diện trình bày như sau: - Các bị cáo C, H cùng trình bày nội dung như sau: Các bị cáo thiểu hiểu biết pháp luật nên vô tình đã phạm tội, bản thần các bị cáo chỉ mong muốn giúp cho chị NI lây được chồng và chính chị NI cũng mong muốn bị cáo giúp việc đó. Sau khi phạm tội, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hỗi cải, các bị cáo đều có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng vi phạm pháp luật; gia đình các bị cáo khó khăn, bản thân các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ. Bị cáo C có bố mẹ đẻ % LUẬT SƯ FDVN 3 54] Rdinegdkuẻ Tieb: Ídyn.vn -fdrnlawBirmrm. được tặng thưởng Huân, Huy chương, Bằng khen. Các bị cáo đè nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo, - Bị hại trình bày: Xác nhận tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền 30 triệu đồng như bản án hình sự sơ thâm đã tuyên và bị hại tự nguyện xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đánh giá các tỉnh tiết tăng, nặng, giảm nhẹ mà Tòa án câp sơ thâm đã áp dụng đối với bị cáo thấy Tòa án cấp sơ thâm đã xử đúng người, đúng tội, mức án áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ sô tiên 30 triệu đồng như bản án hình sự Sơ thâm đã tuyên và bị hại tự nguyện xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, do có tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều §I Bộ luật Hình sự cho các bị cáo và áp dụng Điệu 348, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tổ tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thâm đối với kháng cáo của bị hại; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; sửa bản án hình sự sơ thâm của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo hướng giảm một phần hình phạt cho các bị cáo (giảm cho các bị cáo từ 6 thắng đến 01 năm tù). Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thầm tra công khai tại phiên tòa phúc thâm; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đây đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị hại và các bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Hành vi, quyết định tổ tụng của các cơ quan điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiền hành tô tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp SƠ thâm đã thực hiện đúng về thâm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tế tụng hình Sự. Quá trình điều tra, truy tô và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tô tụng, Do đó, các hành vị, quyết định của cơ quan tiễn hành tổ tụng, người tiền hành tô tụng đã thực hiện là hợp pháp. [2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, của chị MNI, người làm chứng, Biên bản giao nhận người giữa Công an Móng Cái với tô chức R, Giấy chứng nhận về nước của Trạm quản lý xuất nhập cảnh Móng Cái và các tài liệu chứng cứ khác có trong hỗ sơ vụ án đã được thâm tra tại phiên tòa, có căn cử xác định bị cáo H và C đã thực hiện hành vị phạm tội như sau: [3] H biết đàn ông Trung Quốc có nhu cầu lẫy phụ nữ Việt Nam làm vợ thông qua người tên là T, quê ở tỉnh Bạc Liêu lấy chông người Trung Quốc. T nói với H mỗi trường hợp đưa được người sang Trung Quốc, T trả cho H 04 vạn nhân dân tệ (tương đương với 120.000.000đ. tiền Việt Nam). H bàn và thông nhất với C: H có trách nhiệm tìm người, sắp xếp đi lại, ăn nghỉ, liên hệ người nhận bên Trung Quốc và giá cả, còn C phụ trách phiên dịch, đưa người sang lrung Quốc, 4 ⁄ LUẬT SƯ FDVN Mpapfiuá, tsb: Tổmmn -Tồrdlawfirmrn 342 giao người và nhận tiên vê đưa cho H, tiền trả cho C sẽ thống nhất sau. Nội dung này tại phiên tòa cơ bản bị cáo H, C thừa nhận, chỉ khác so với giai đoạn điều tra là: Bị cáo H khai sau khi bố chị N1 không đông ý cho NI lây chông Trung Quốc thi H và C mới phân công nhau, C thì cho răng do H nhờC đưa chị N] sang Trung Quốc chứ không bàn bạc gì. Như vậy H và C có động cơ, mục đích là đưa phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc giao cho T để T gả bán cho đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ và được nhận tiên; H và C không có chức năng môi giới trong việc lấy vợ hoặc lẫy chồng người nước ngoài, H và C không có ý thức đưa người khác trốn đi nước ngoài vả trong vụ án nảy thì bị hại là chị NI được các bị cáo C, H coi như một vật trao đôi đề lây tiền. [4] Đề thực hiện mục đích trên, ngày 03/01/2020, H và C đến nhà chị NI hỏi nguyện vọng và thuyết phục chị NI sang Trung Quốc lẫy chồng, bằng thủ đoạn: Nói với chị NI việc đản ô ông Trung Quốc rất chiều vợ, cuộc sống bên đó rất sung sướng. Nếu chị NI nhất trí lây chồng Trung Quốc thì sẽ cho chị NI xem mặt chú rễ và làm thủ tục kết hôn tại Việt Nam, chị NI sẽ được số tiên sính lễ 60.000.000đ và còn được tiền gửi về cho gia đình. Nội dung này bị cáo H đều thừa nhận, còn bị cáo C tại phiên tòa công nhận là có nói đàn ông Trung Quốc chiều chuộng, cuộc sống sung sướng, các nội dung khác đều không biết. Chị NI nghe H và C nói vậy nên mới đồng ý mặc dù bố mẹ chị NI không nhất trí cho chị NI lấy chồng Trung Quốc. Ngày 06/01/2020, H cho người đến đón chị NI đi Hà Nội làm hộ chiều. Ngày 07/01/2020, H bế trí đưa chị N1 lên Lạng Sơn, đồng thời làm visa, đưa tiền cho C, bắt xe cho C lên Lạng Sơn gặp chị NI ở nhà nghỉ bổ Ngày 08/01/2020, H và C đưa chị NI đi đến tỉnh Hà Nam - Trung Quốc giao chị NI cho T2 (là người của T) và C nhận 1.000 nhân dân tệ (theo chị NI cung cấp). số tiền còn lại chuyển H sau, Chị NI bị người của T đưa đi gặp 0] người đàn ông dự kiến lẫy làm chồng nhưng chị NI không nhất trí vi không phải người mà H và C giới thiệu trong ảnh khi ở Việt Nam. Chị NI biết là mình bị lừa nên liên hệ với gia đình và người quen ở Trung Quốc để làm thủ tục trình báo với cơ quan chức năng Trung Quốc. Ngày 26/3/2020, chị NI được bàn giao cho lực lượng Biên phòng Việt Nam tại cửa khâu Móng Cái - Quảng Ninh, trong văn bản có ghỉ bàn giao người bị bán sang Trung Quốc. [5] Như vậy, bị cáo H và C băng thủ đoạn lừa nói với chị N] rằng kết hôn với đản ông Trung Quốc được gặp mặt chú rể, làm thủ tục kết hôn tại Việt Nam, được tiền sính lễ, cuộc sống sung sướng, được tiền gửi về gia đình... Chị N1 tưởng là thật nên đã đi theo C sang Trung Quốc và bị H, C bán lấy tiền. Bị cáo € trình bày bị cáo không được H cho biết nội dung cụ thể của Việc đưa chị NI sang Trung Quốc làm gì mà chỉ giúp H đi phiên địch và cầm tiên về. Tuy nhiên tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai trong giai đoạn điều tra, C thừa nhận C và H bản nhau đưa phụ nữ sang Trung Quốc lây chồng để kiếm tiễn và có sự phân công nhiệm vụ của từng người, việc đưa người sang Trung Quốc được 04 vạn nhân dân tệ, C và H không nói cho NI biết; ngày 03/01/2020 ở nhà C, chị NI bảo bố chị NI không đồng ý nên không có đủ giấy tờ đẻ lẫy chồng "lùng Quốc, H bảo chị NÌ nêu không có giấy. tờ thì dẫn chị NI “đi chu?” và bảo C đưa chị N1 đi thì C đồng ý, C bảo chị NI nếu có giấy tờ sang đó sẽ tốt hơn; H2 ở Lạng Sơn là người chỡ <%° LUẬT SƯ EDVN 5 543 "web: fdvn1 chị N đi đường khác sang Trung Quốc. Tại phiên tòa, bị cáo C thừa nhận trong giai đoạn điều tra không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình, khai báo tự nguyện, đúng sự thật. Do đó, cơ cơ sở xác định giữa H vàC có sự bàn bạc về việc dưa phụ nữ sang Trung Quốc bán kiếm lời, C biết chị N1 không có đủ giấy tờ hợp pháp nhưng vần đưa chị NI sang Trung Quốc, giao cho người khác đê nhận tiên. C trình bảy trước đây làm giúp việc ở Macau nhưng chỉ ở trang nhà, không biết đường đi lỗi lại ở Trung Quốc nhưng vấn nói với chị NI rằng lấy chồng Trung Quốc sung sướng để dụ dỗ, lừa chị NI đồng ý cho C và H đưa chị NI đi. [6] Căn cử vào hành vi các bị cáo đã thực hiện được mồ tả như rêu trên, căn cứ vào hậu quả là chị NI bị các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C đưa sang Trung Quốc giao cho người đàn ông Trung Quốc để được nhận lợi ích vật chất là tiền. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Mua bán người' ° theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo theo khung hình phạt là phù hợp. [7] Xét kháng cáo của các bị cáo: [8] Tòa án cấp sơ thâm trong quá trình xét xử đánh giá vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó xác định bị cáo Trịnh Thị H có vai trò cao hơn bị cáo Đặng Thị C. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo được áp dựng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, hai bị cáo đều có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng vi phạm pháp luật, bị cáo C có bố mẹ đẻ được tặng thưởng Huân, Huy chương, Bằng khen; từ đó, áp dụng mức hình phạt đôi với bị cáo H cao hơn mức hình phạt ấp dụng dỗi với bị cáo C là đúng. [9] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại toàn bộ số tiền 30 triệu đồng như bản án sơ thâm đã tuyên, bị hại trực tiệp nhận tại phiên tòa xác nhận là đúng và tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo. Do tại phiên tòa có tình tiết giảm nhẹ mới áp dụng cho các bị cáo được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đánh giá trong vụ án này thầy phía bị hại cũng có một phần lỗi khi tự nguyện đề H và C đưa sang Trung Quốc nhằm mục đích kết hôn với đàn ô ông nước sở tại, hy vọng được đôi đời, có cuộc sông sung túc hơn. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sụ, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt là đúng pháp luật. [10] Xét kháng cáo của bị hại: [I1] Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, đại điện theo ủy quyền của bị hại thừa nhận đã nhận đủ số tiền 30 triệu đồng do các bị cáo bôi thường và tự nguyện xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Thấy đây là ý chí tự nguyện của phía bị hại nên Hội đồng xét xử trên cơ Sử đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tổ tụng hình sự quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại. [12] Tổng hợp những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thầm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm 6 4 LUẬT SƯ FDVN Me Nhà nh Khann-Rhnaiwirarn 544 sát nhân dân câp cao tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận. [13] Các phần quyết định khác của bản án sơ thâm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Các bị cáo, bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm. [14] Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 348, Điều 355, Điêu 357 Bộ luật Tổ tụng hình sự, Luật Phí và lệ phi; Nghị “quyết SỐ 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, øiảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. QUYẾT ĐỊNH: - Đình chỉ xét xử phúc thâm đối với kháng cáo của chị Nguyễn Thị NI. - Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C. I. Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C phạm tội “Mua bán người”. - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều Ÿi, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Thị H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/10/2020. - Ấp dụng điểm d khoản 2 Điều 150, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Thị C 06 (sảu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/9/2020. 2. Vẻ trách nhiệm dân sự; Xác nhận các bị cáo đã thực hiện xong việc bôi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại số tiền 30 triệu đồng theo quyết định của bản án hình sự sơ thâm đã tuyên. 3. Các bị cáo, bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thâm. 4. Các quyết định khác của bản á án sơ thâm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kế từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thâm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. NỘI DUNG ÁN LỆ TH3J... H và C có động cơ, mục đích là đưa phụ nữ Việt Nam sang T rung Quốc giao cho T để T gả bán cho đàn ông Trung Quốc làm vợ và được nhận tiên; HH và C không có chức năng môi giới trong việc láy chông người nước ngoài, H và C không có ý thức đưa người trốn ẩi nước ngoài và trong vụ án này thì bị hại là chị NI được các bị cáo C, H coi như một vật trao đổi để lấy tiền. [5j... giữa H và C có sự bàn bạc về việc đưa phụ nữ Sang Trung Quốc bán kiếm lời, C biết chị N1 không có đủ giáy tờ hợp pháp nhưng vân đưa chị N1 sang Trung Quốc, giao cho người khác để nhận tiên. C trình bày trước đây làm giúp việc ở Mlacau nhưng chỉ ở trong nhà, không biết đường đi lối lại ở Trung Quốc <2 LUẬT SƯ FDVN 7 545 Rdintgdiwwd Teb: Ílvnvn -fdrnlawrivn nhưng vấn nói với chị II rang lấy chồng Trung Quốc sung sướng đề dụ dỗ, lừa chị N1 đồng ý cho C và H đưa chị NI đi. / 6] Căn cứ vào hành vì các bị cáo đã thực hiện được mô tả như nêu trên, căn cứ vào hậu quả là chị NI bị các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C đưa sang Trung Quốc giao cho người đàn ông Trung Quốc đề được nhận lợi ích vật chát là tiền. Tòa án cấp sơ thấm xét xử các bị cáo về tội “Mua bản người ' theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt đổi với các bị cáo theo khung hình phạt là phù hợp. ” ‹<%® LUẬT SƯ FDVN >—”—.r 546

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.