| P SỐ 56/2022/AL FDVN LAWy lếc| : ết tranh chấp di dời mồ mả òi#Clidi) hài foa ín nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 yết định SỐ 323/0ĐÐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nguồn án lệ: Bản án dân sự sơ thâm số 33/2019/DS-ST ngày 18/1 1/2019 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang về vụ án “?ranh chấp yêu câu châm dứi hành vị ngăn cản di đời mồ mả ` giữa nguyên đơn là bà Trân Thị Thu V với bị đơn là anh Vương Minh T, anh Vương Minh H. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 4 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huỗng án lệ: Người chồng chết, người vợ nhờ chôn cất người chồng trên phần đất của người thân bên nhà chông. Sau đó, người vợ muôn di dời phân mộ của người chông vệ đât của gia đình mình thì phát sinh tranh châp. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định người vợ có quyền đi dời mồ mả của người chông đê quản lý, chăm sóc. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: - Khoản 1 Điều 7, Điều 11 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015: - Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Từ khóa của án lệ: ”: “Quyền chăm sóc, quản lý, đi đời mồ mả”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo đơn khởi kiện ngày 24/04/2019 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trán Thị Thu V trình bày: Nguyên chồng bà là ông Vương Văn A, sinh năm 1945, chết năm 2004, trước khi chết thì chồng bà có tâm nguyện chôn cất tại đất nhà ấ ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nhưng vào thời điểm chồng bà chết thì phần đất của gia đình bà đang trong quy hoạch nên bà mới đem ông À vê phân đât của anh chông bà là ông Vương Văn B chôn cât với ý định của bà và con bà là nhờ đê chờ qua quy hoạch sẽ đem hài côt chông của bà về đât nhà chôn cât. “Tranh chấp di dời mồ mả ! Án lệ này do NCS. Lý Văn Toán, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang và CN. Hồ Thị Kiều Trang, Tòa án nhân dân Thành phô Hồ Chí Minh đề xuât 1 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm Hiện nay phần đất của gia đình bà ôn định, bà muốn thực hiện theo nguyện vọng của chồng bà là đem hài cốt của ông A về đất nhà chôn cất nhưng hai cháu là anh Vương Minh T và anh Vương Minh H ngăn cản không đồng ý cho bà đem hài cốt chồng của bà đi về đất nhà chôn cắt. Tại phiên tòa hôm nay: ông Phù Thanh S, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của bà Trần Thị Thu V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Vương Minh T và anh Vương Minh H không được ngăn cản việc bà V đem hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn A về đất nhà của bà để chôn cất. Bị đơn là anh Vương Minh T và anh Vương Minh H cùng có ý kiến trình bày: Ông Vương Văn A là chú ruột của hai anh, lúc ông A chết thì có chôn cất trên phần đất của gia đình anh, hiện nay do anh Vương Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. Nay với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Thu V yêu cầu anh em anh châm dứt hành vi ngăn cản việc bà lấy hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn A về đất nhà của bà để chôn cất thì các anh không đồng ý với lý do chú của anh là ông Vương Văn A hiện nay là không có người thân bên cạnh chăm sóc mồ mả. Ngoài ra tạm thời để anh em anh chăm sóc khi nào xác định có người thân bên cạnh thì anh em anh sẽ đồng ý cho bà V di dời hài cốt. Anh em anh đã chăm sóc khoảng 15 năm nay rồi nên không đồng ý với yêu cầu của bà V. Tại phiên tòa hôm nay: Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Thu V yêu cầu anh em anh chấm dứt hành vi ngăn cản việc bà lấy hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn A về đất nhà của bà để chôn cất thì anh em anh không đồng ý. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành nêu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thấm phán và người tham gia tô tụng trong vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm nghị án tại phiên tòa sơ thắm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. NHẠN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu V thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản I Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là thuộc thầm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn Trần Thị Thu V yêu cầu anh Vương Minh T và anh Vương Minh H không được ngăn cản việc bà V lấy hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn A về đất nhà của bà để chôn cất, nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “7ranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn cản di dời mỗ má ” [3] Về nội dung vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn bà Trần Thị Thu V với bị đơn anh Vương Minh T và anh Vương Minh H thống nhất 2 <4 SLUẬT SƯ EFDVN lmrapLaiẻ TTEỈ :b: fdrn.vn - fdrnlawlirrn.rni 464 xác định lúc trước bà V có nhờ đất của anh em anh Vương Minh T và anh Vương Minh H để chôn cất phần. mộ của chồng bà là ông Vương Văn A và hiện tại phần mộ của ông À vẫn còn nằm trên phân đất của anh Vương Minh T. Bà Trần Thị Thu V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Vương Minh T và anh Vương Minh H không được ngăn cản việc bà V lẫy hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn A về đất nhà của bà để chôn cất. Bị đơn anh Vương Minh T và anh Vương Minh H không đồng ý yêu cầu của bà V với lý do chú là ông Vương Văn A hiện nay là không có người thân bên cạnh chăm sóc mồ mả. [4] Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thông. nhất xác định trên phần đất của anh Vương Minh T và anh Vương Minh H có phần mộ của ông Vương Văn A; bà V là vợ hợp pháp của ông Vương Văn A, nay bà có nguyện vọng di dời hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn À về phần đất nhà của bà để chôn cất và chăm sóc. Xét yêu cầu di dời hài cốt ông Vương Văn A là chồng của nguyên đơn bà Trần Thị Thu V là có căn cứ và phù hợp với phong tục tập quán cũng như truyền thống của người Việt Nam. Việc anh Vương Minh T và anh Vương Minh H đưa ra những lý do trên để ngăn cản bà V di dời hài cốt của chồng mình là không hợp lý, bởi bà V có mối quan hệ là vợ của ông Vương Văn A được pháp luật cũng như các bên thừa nhận nên có quyền thăm nom, chăm sóc và quản lý mô mả của chồng mình là phù hợp với đạo lý cũng như thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015. [5] Từ những căn cứ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu V là có căn cứ nên được chấp nhận. Do đó, buộc bị đơn anh Vương Minh T và anh Vương Minh H phải châm dứt hành vi cản trở việc bà Trần Thị Thu V đi dời hài cốt của chồng bà là ông Vương Văn A. [6] về án phí dân sự sơ thấm: Buộc bị đơn anh Vương Minh T và anh Vương Minh H môi người phải nộp án phí sơ thâm là 300.000 đông. __ L7] Hoàn trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Thu V số tiền tạm ứng án phí sơ thâm 300.000 đông theo biên lai thu tiên sô 0009710 ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Vì các lẽ trên, QUYÉT ĐỊNH: __ Căn cứ vào khoản 2 Điều 4, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điêm a khoản I Điêu 39 Bộ luật Tô tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Điều 4, Điều 5, Điều 14 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ vào Điều 18 và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQHI2 ngày 27/02/2009: Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu V. 3 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 465 2. Buộc bị đơn anh Vương Minh T và anh Vương Minh H phải chấm dứt hành vi cản trở việc bà Trân Thị Thu V di dời hài côt của chông bà là ông Vương Văn A. _ Vẻán phí dân sự sơ thấm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điêu I8 và Điêu 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án sô 10/2009/PL-UBTVQHI2 ngày 27/02/2009; Buộc bị đơn anh Vương Minh T và anh Vương Minh H mỗi người phải nộp án phí sơ thâm là 300.000 đông. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Thu V số tiền tạm ứng án phí sơ thâm 300.000 đông theo biên lai thu tiên sô 0009710 ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thị hành án dân sự. 4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kế từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tông đạt hợp lệ. NỘI DUNG ÁN LỆ “14T... Trong quá trình giải quyết vụ án các bên đêu thông nhất xác định trên phần đất của anh Vương Minh T và anh Vương Minh H có phần mộ của ông Vương Văn 4; Bà V là vợ hợp pháp của ông Vương Văn A4, nay bà có nguyện vọng di đời hài cốt của chỗng bà là ông Vương Văn A về Ề phân đất nhà của bà để chôn cất và chăm sóc. Xét yêu cầu di dời hài cốt ông Vương Văn A là chồng của nguyên đơn bà Trần Thị Thu V là có căn cứ và phù hợp với phong tục tập quán cũng như truyền thống của người Việt Nam. Việc anh Vương Minh T và anh Vương Minh H đưa ra những lý do trên để ngăn cản bà V di dời hài cốt của chẳng mình là không hợp lý, bởi bà V có mối quan hệ là vợ của ông Vương Văn A được pháp luật cũng như các bên thừa nhận nên có quyên thăm nom, chăm sóc và quản lý mô mả của chông mình là phù hợp với đạo lý cũng như thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam và đúng theo quy định tại khoản Ì Điểu 5 Bộ luật Dân sự năm 2015. ” C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 466 LUẬT SƯ FDVN TỔNG LƯỢC ÁN LỆ FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH ÁN LỆ SỐ 57/2023/AL VỀ HÀNH VI GIAN DỐI NHẰM TIẾP CẬN TÀI SẢN TRONG TỘI “CƯỚP GIẬT TÀI SẲN” NỘI DUNG ÁN LỆ “4] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 46/GĐÐ-VKS-P7 ngày 25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Thành Quốc B có thủ đoạn gian dối là để các bị hại thấy bị cáo có tiền, nhằm tạo niềm tin để tiếp cận tài sản. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực hiện hành vi giao hàng - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa các bị hại và bị cáo chưa hoàn thành, bị cáo chưa ký nhận vào chứng từ giao hàng, tài sản vẫn trong tầm quản lý của các bị hại thì bị cáo đã tăng øa, điều khiển xe tầu thoát cùng tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Quốc B đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Bản án sơ thầm số 111/2020/HSST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Quốc B là có căn cứ, đúng pháp luật." TINH HUƠONG PHADP LY Rế\ CLAI PHAP PHAP LY ï Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để Trưởng hợp này, bị cáo phải bị truy người quản lý tài sản chuyển giao cứu trách nhiệm hình sự về tội tài sản cho bị cáo, sau đó lợi dụng "cướp giật tài sản”. sơ hở để nhanh chóng tấu thoát. Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn
Án lệ
Án lệ số 56/2022/AL về việc giải quyết tranh chấp di dời mồ mả
Số hiệu: 56/2022/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2022
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.