Ê SỐ 54/2022/ALI L D Vàxáú an ụ hà ilcbn dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp T àI ệời ì Êtỳi me khếng "'M tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con P án nhân dân tối cao thông qua ngày 7 tháng 9 năm 2022 và ì được công bồ theo Quyết định số 323/QĐÐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thấm số 01/2019/HNGĐ-GĐT ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Đà Năng về vụ án hôn nhân gia đình “Ly hồn, íranh chấp VỀ nuÔi con ˆ tại tỉnh Đăk Lăk giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị Kiêu K với bị đơn là anh Nguyên Hữu P. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 3 phần “Nhận định của Toà án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huỗng án lệ: _ Trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về quyền nuôi con dưới 36 tháng tuôi; người mẹ tự ý bỏ đi từ khi con còn rât nhỏ, không quan tâm đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; người con được người cha nuôi dưỡng, chăm sóc trong điêu kiện tôt và đã quen với điêu kiện, môi trường sông đó. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải tiếp tục giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực tiêp nuôi dưỡng, chăm sóc. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ khoá của án lệ: “Quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi”; “Ly hôn”; “Tranh chấp về nuôi con”. NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Phạm Thị Kiều K và anh Nguyễn Hữu P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kêt hôn ngày 21/7/2016, tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tính Đăk Lãk. Tuy nhiên, sau khi kêt hôn một thời gian, thì vợ chông phát sinh mâu thuân, nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sông, do đó chị K bỏ vê nhà bố mẹ đẻ sông từ khoảng tháng 3/2017. Nay, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị Phạm Thị Kiêu K và anh Nguyên Hữu P thuận tình ly hôn. ! Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất. | r h LUẬT SƯ EFDVN A47 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm - Về con chung: Anh, chị xác nhận có 01 con chung là cháu Nguyễn Đắc T, sinh ngày 30/11/2016. Khi cháu T được 04 tháng tuôi, chị K bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sông, để lại cháu T cho anh P nuôi dưỡng. Nay, anh, chị cùng để nghị xin được nuôi con chung, chị K yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con, còn anh P không yêu cầu chị K cấp dưỡng tiền nuôi con. - Về tài sản chung: Vợ chồng cùng xác nhận không có tài sản chung và không có công nợ chung, nên không yêu câu Tòa án giải quyêt. Tại Bản án Hồn nhân và gia đình sơ thấm số 02/2018HNGĐ-ST ngày 05/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Krông Pác, tỉnh Đăk Lak: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 1 17 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vê mức thu, miền, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, quyết định: - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Kiều K và anh Nguyên Hữu P. - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đắc T, sinh ngày 30/11/2016 cho anh Nguyễn Hữu P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị Kiều K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản. ___- Về cập dưỡng tiền nuôi con: Ghi nhận việc chị Phạm Thị Kiều K tự nguyện câp dưỡng môi tháng 1.000.000 đông đê nuôi cháu Nguyên Đặc T, sinh ngày 30/11/2016 cho đên khi cháu T tròn 18 tuôi. - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết. Ngoài ra, bản án sơ thâm còn quyết định về án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyên kháng cáo theo quy định của pháp luật. - Ngày 08/3/2018, chị Phạm Thị Kiều K kháng cáo xin được nuôi con chung, không yêu câu anh Nguyên Hữu P câp dưỡng tiên nuôi con. Tòa án cấp phúc thâm xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hữu P, với lý do: Tòa án đã tống đạt thông báo triệu tập phiên tòa phúc thâm hợp lệ 02 lần, nhưng anh P đều văng mặt không có lý do. Tại phiên tòa phúc thâm, chị K giữ nguyên nội dung yêu câu tại đơn khởi kiện và đơn kháng cáo. Tại Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thâm số 11/2018/HNGĐ-PT ngày 07/6/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lăk quyêt định: Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Phạm Thị Kiều K; sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thâm sô 02/2018/HNGĐ-ST ngày 05/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc. LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 448 Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử: - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Kiều K và anh Nguyên Hữu P. - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đắc T, sinh ngày 30/11/2016 cho chị Phạm Thị Kiều K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Hữu P được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản. - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Kiều K không yêu cầu anh Nguyễn Hữu P câp dưỡng nuôi con chung. - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết. Ngày 06/7/2018, anh Nguyễn Hữu P có “Đơn đề nghị xem xét giám đốc thâm”, với nội dung: Tòa án cấp phúc thầm không tống đạt thông báo xét xử, không giao bản án phúc thâm. Khi có quyết định thi hành án anh mới biết việc thay đôi giao con chung cho chị K nuôi dưỡng là vi phạm tổ tụng; anh không nhất trí việc cấp phúc thâm giao con cho chị K nuôi dưỡng, anh đề nghị được nuôi con như bản án sơ thầm đã quyết định. Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 114/2018/QĐÐKNGĐT-VKS-DS ngày 10/10/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân câp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thâm huỷ Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thâm số 1 1/2018/HNGĐ-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để xét xử phúc thẩm lại, theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thâm, hủy bản án Hôn nhân và gia đình phúc thắm, giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thâm. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Về tố tụng: Về phạm vi xét xử phúc thâm: Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Phạm Thị Kiều K chỉ kháng cáo Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thâm về “Phần con chung”. Trong nhận định của Bản án phúc thâm cũng chỉ xem xét về “Phần con chung”, nhưng phần quyết định của Bản án phúc thâm lại quyết định cả “Về quan hệ hôn nhân, về tài sản, nợ chung” là không đúng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về sự có mặt của đương sự: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Trước khi xét xử, Tòa án câp phúc thâm đã tông đạt các thông báo, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thâm cho anh Nguyên Hữu P qua dịch vụ bưu chính (thê hiện 3 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 449 tại các phiếu báo phát - bút lục số 83, 84, 86). Anh Nguyễn Hữu P không nhận được các văn bản tố tụng nêu trên là do lỗi của Bưu điện huyện K (tại Công văn số 23/BĐH.KRP ngày 25/9/2018, Bưu điện huyện K xác nhận do ông Nguyễn Thanh TI nhân viên bưu tá phát nhằm cho người khác cùng tên P ở thôn H - bút lục số 102). Như vậy, Tòa án cấp phúc thâm xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hữu P là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về nội dung: Về việc nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Kiều K và anh Nguyễn Hữu P đều có nguyện vọng xin được nuôi cháu Nguyễn Đắc T, sinh ngày 30/11/2016. Khoản 3 Điều S1 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện đề trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn vợ chồng, chị Phạm Thị Kiều K tự ý về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, bỏ lại cháu T mới được 04 tháng tuổi cho anh Nguyễn Hữu P nuôi dưỡng. Tại các Biên bản xác minh cùng ngày 23/01/2018 (bút lục số 19, 20, 24), Ban tự quản thôn và Chi hội phụ nữ thôn H, xã E, huyện K xác nhận: “Anh Nguyễn Hữu P nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Đắc T rất tốt. Anh P có việc làm tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ N, thu nhập ồn định, hoàn toàn đủ điều kiện để nuôi cháu T”. Mặc dù, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”, nhưng chị K đã không nuôi cháu T từ khi cháu được 04 tháng tuổi. Hiện tại, cháu T đã quen với điều kiện, môi trường sống và được anh P nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo trong điều kiện tốt nhất; nêu ø1ao cháu T cho chị K nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa á án câp SƠ thẩm đã xem xét một cách toàn diện, tiếp tục giao cháu T cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thấm sửa bản án sơ thâm giao cháu T cho chị K nuôi dưỡng là không phù hợp, chưa xem xét đầy đủ đến quyên và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu T. [4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa sơ thâm, anh Nguyễn Hữu P không yêu cầu cấp dưỡng, còn chị Phạm Thị Kiều K có ý kiến: “Nếu Tòa án giao con cho anh P nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng”. Thu nhập của chị Phạm Thị Kiều K là 6.000.000 đồng/tháng, do đó mức cấp dưỡng mà chị K tự nguyện là phù hợp. [5] Đối với việc nuôi con chung sau khi ly hôn: Nếu chị Phạm Thị Kiều K có đủ căn cứ cho rằng anh Nguyễn Hữu P không còn đủ điều kiện nuôi con chung hoặc ngược đãi con chung, thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì các lẽ trên; LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 450 QUYÉT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 343, Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự. 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thấm số I14/2018/QĐÐĐKNGĐT ngày 10/10/2018 của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân câp cao tại Đà Năng. 2. Hủy Bản án hôn nhân và gia đình phúc thâm số 1 1/2018/HNGĐ-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thâm số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 05/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. NỘI DUNG ÁN LỆ: “f3] Về nội dung: Về việc nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Kiêu K và anh Nguyễn Hữu P đêu có nguyện vọng xin được nuôi cháu Nguyên Đắc T, sinh ngày 30/11/2016. Khoản 3 Điều Š] của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con ”. Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn vợ chồng, chị Phạm Thị Kiều K tự ý về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, bỏ lại cháu T mới được 04 tháng tuổi cho anh Nguyễn Hữu P nuôi dưỡng. Tại các Biên bản xác mình cùng ngày 23/01/2016 (bút Hục số 19, 20, 24), Ban tự quản thôn và Chỉ hội phụ nữ thôn H, xã E, huyện K xác nhận: “Anh Nguyễn Hữu P nuôi dưỡng, chăm sóc chảu Nguyễn Đắc T rất tỐI. Anh P có việc làm tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ N, thu nhập ô ổn định, hoàn toàn đủ điều kiện để nuôi cháu T”. Mặc dù, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi... ”, nhưng chị K đã không nuôi cháu T từ khi cháu được 04 tháng tuổi. Hiện tại, cháu T đã quen với điêu kiện, môi Irưởng sống và được anh P nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo trong điêu kiện tốt nhất; nêu giao cháu T cho chị K nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cập sơ thẩm đã xem xét một cách toàn diện, tiếp tục giao cháu T cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm giao cháu T cho chị K nuôi dưỡng là không phù hợp, chưa xem xét đây đủ đến quyên và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu T.” C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 451 LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 55/2021/AL VỀ CÔNG NHẬN HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG VI PHẠM ĐIỀU KIỆN VỀ HÌNH THỨC NỘI DUNG ÁN LỆ “[6] Về thời hạn thực hiện giao dịch được hai bên xác định là từ khi xác lập giao dịch cho đến khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, nên đây là giao dịch đang được thực hiện, về nội dung, hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, tuy thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏa thuận, nhưng khi được cấp đất các bên đã thay đổi thỏa thuận bằng lời nói thành chuyển nhượng thửa 877 và tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng việc giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bị đơn là đã đủ điều kiện để chuyển nhượng. Theo quy định tại Điều 11, khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực...” mì v TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ mi GIẢI PHÁP PHÁP LÝ LI Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử | Trường hợp này, Tòa án công nhận dụng đất được xác lập trước ngày hiệu lực của hợp đồng. 01/012017 chưa được công chứng/chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ của minh. Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn
Án lệ
Án lệ số 54/2022/AL về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Số hiệu: 54/2022/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2022
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.