FDVN LAW FIKM Ñ LỆ SỐ 53/2022/AL! Tài liệu nghiện vải hủy kết hôn trái pháp luật Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bô theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. Nguồn án lệ: _ Quyết định giám đốc thâm số 04/2021/HNGĐ-GĐT ngày 07/7/2021 của Hội đồng Thâm phán Toà án nhân dân tôi Cao VỆ việc dân sự “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”; người yêu câu là bà Nguyên Thị S, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan gôm 03 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 2, 3, 4, 8, 9, 10 và 11 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huỗng án lệ: Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/0 1/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực), không đăng ký kêt hôn, có tô chức lê cưới và có thời gian chung sông tại Việt Nam. Sau đó, hai bên ra nước ngoài sinh sống và phát sinh mâu thuẫn. Khi chưa giải. quyết ly hôn thì một bên đăng ký kết hôn với người khác tại cơ quan nhà nước có thầm quyền của Việt Nam. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định quan hệ hôn nhân đầu tiên là hôn nhân thực tế. Khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế mà một bên đăng ký kết hôn với người khác tại cơ quan nhà nước có thâm quyền của Việt Nam thì việc kết hôn này là trái pháp luật. Tòa án châp nhận yêu câu hủy việc kêt hôn trái pháp luật. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: " Điểm c khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 10, khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điêu 122 Luật Hôn nhân và g1a đình năm 2014; - Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; _....- Điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QHI0 ngày 09/6/2000 của Quốc hội vê việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; - Điêm d Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 03/01/2001 hướng dân thi hành Nghị quyêt sô 35/2000/NQ-QHI10 ngày 09/6/2000 của Quôc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; ! Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất. | LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 439 - Điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTTP hướng dân thi hành một sô quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ khóa của án lệ: “Hôn nhân thực tế”; “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Tại Đơn đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật đề ngày 28/6/2017 và lời khai trong quả trình tham gia tô tụng của bà Nguyên Thị S và người đại diện theo ty quyên của bà Š là chị Lương Thị T trình bảy: Bà S và ông Phạm Bá H chung sống, có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh ngày 23/11/1980. Tháng 4/1981, vợ chồng bà S, ông H sang Hồng Kông và sau đó được nhập cư tại Canada. Đến năm 2008, vợ chồng bà S, ông H trở vê Việt Nam sinh sông tại nhà số 24, Tổ 14, Khu 03 phường T, thành phô U, tỉnh Quảng Ninh (số hộ khâu số 500296496 ngày 03/1 1/2014, họ và tên chủ hộ: Phạm Bá H; quan hệ với chủ hộ: vợ Nguyễn Thị S). Quá trình chung sống, ông bà sinh được 03 người con chung là anh Phạm Hồng K, sinh năm 1981 chị Phạm Thị Thu HI, sinh năm 1984 và chị Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1991. Hiện tại các con của bả S và ông H đều đang định cư tại Canada. Từ năm 201 I, khi ông H có quan hệ ngoại tình với bà Nguyễn Thị L thì vợ chồng bà S và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Bà S bị ông H đánh đập, đuôi ra khỏi nhà, nên bà S đã sang Canada chơi với các con cho khuây khỏa. Mẫy tháng sau, khi bà S trở về thì ông H đã đón bà L cùng con chung của hai người vê nhà bà 5, ông H ở và không cho bà Š vào nhà mặc dù bà S đã báo với chính quyền địa phương can thiệp giải quyết. Nay bà S biết được ông H và bà L đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 17/4/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Do đó, bà S yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H với bà Nguyễn Thị L. Người đại diện theo úy quyên của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trình bày: Ủy ban nhân dân thành phố M khăng định thầm quyên, trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho bà Nguyễn Thị L và ông Phạm Bá H là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nay bà S có đơn khởi kiện yêu cầu tuyên hủy việc kết hôn giữa bà L và ông H là trái pháp luật; nếu có căn cứ thì đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết việc dân sự nêu trên theo quy định pháp luật. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự sơ thâm số 01/2018/QĐÐDS-ST ngày 02/02/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyêt định: - Chấp nhận yêu cầu “Hy việc kết hôn trái pháp luật ” của bà Nguyễn Thị S. 2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 440 - Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 đăng ký ngày 17/4/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Buộc ông H và bà L phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng. - Giao con chung của ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L là cháu Phạm Thành Ð, sinh ngày 12/12/2015 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Ð đủ 18 tuổi. Ông Phạm Bá H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H có quyên, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Ngoài ra, Tòa án câp sơ thâm còn quyêt định về lệ phí và quyên kháng cáo của các đương sự. Ngày 23/02/2018, bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo đối với Quyết định nêu trên. Tại phiên họp phúc thâm, ông Phạm Bá H trình bày: Năm 1980, ông H có quen biết bà Nguyễn Thị S nhưng không có chuyện tô chức đám cưới hay chung sông với nhau ngày nào khi ở Việt Nam. Năm 1981, khi sang Hồng Kông, ông và bà S gặp lại nhau mới trở nên thân thiết chung sống với nhau. Mặc dù có con chung nhưng ông bà không đăng ký kết hôn, độc lập kinh tế, tài sản. Do đó, Tòa án cấp sơ thâm căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội để xác định giữa ông và bà S là quan hệ hôn nhân thực tế là không có căn cứ. Quan hệ hôn nhân giữa ông với bà Nguyễn Thị L là hợp pháp vì hai bên có đăng ký kết hôn. Trước khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, cơ quan có thầm quyên đã tiến hành xác minh tại nhiều nơi, trong đó có việc xác minh lãnh sự quán Việt Nam tại Canada về việc ông chưa đăng ký kết hôn với bất cứ ai, không đang trong thời kỳ hôn nhân với aI. Tại phiên họp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L là ông Đặng Thành V trình bày: Đề nghị Tòa án bác đơn yêu cầu của bả S về VIỆC hủy hôn nhân hợp pháp giữa ông H và bà L, ông H và bà S có chung sông với nhau ở Hồng Kông nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2008, ông H về nước trước, ông H và bà S không chung sông với nhau như vợ chồng ở Việt Nam mà chỉ cùng tô chức đám cưới cho các con. Tại Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019, Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội đã quyêt định: Chấp nhận kháng cáo của bả Nguyễn Thị L và sửa Quyết định giải quyết việc dân sự sơ thắm số 01/2018/QĐDS-ST ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc không chấp nhận yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của bà Nguyễn Thị S. Công nhận quan hệ giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L là quan hệ hôn nhân hợp pháp, theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 đăng ký ngày 17/4/2017 của UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thầm còn quyết định về lệ phí và chỉ phí ủy thác tư pháp. Ngày 06/02/2020, bà Nguyễn Thị S có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục 3 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 441 giám đốc thầm đôi với Quyết định phúc thấm giải quyết việc dân sự số 12/2019QĐÐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, yêu cầu tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L. Ngày 27/4/2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thắm số 05/2021/KN-HNGĐ đối với Quyết định phúc thâm giải quyết việc dân sự số .12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội về việc “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” giữa người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị S; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Bá H, bà Nguyễn Thị L và Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Hội đồng Thấầm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm, hủy Quyết định phúc thâm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội và giữ nguyên Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐÐDS-ST ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Tạm đình chỉ thi hành Quyết định phúc thâm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội cho đến khi có quyết định giám đốc thấm của Hội đồng Thâm phán Toà án nhân dân tối cao. Tại phiên họp giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tôi cao đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao châp nhận Quyêt định kháng nghị giám đôc thâm sô 05/2021/KN-HNGPĐ ngày 27/4/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tÔI cao. NHẠN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN [I] Tại Công văn số 424/UBND ngày 07/9/2017 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh trả lời Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh có nội dung: “Hiện nay tại Ủy ban nhân dân phường P sỐ gốc đăng ký kết hôn chỉ còn lưu từ năm 1989 đến nay, còn từ năm 1988 trở về trước Ủy ban nhân dân phường P không còn lưu trữ được. Số đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U còn lưu từ năm 1989 đến nay không có lưu trường hợp đăng ký kết hôn của ông Phạm Bá H, sinh năm 1959 và bả Nguyễn Thị S, sinh năm 1960”. Quá trình giải quyết vụ án, bà S không cung cấp được Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa bà S với ông H. Do đó, không có căn cứ xác định bà S và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào năm 1980. [2] Căn cứ Biên bản xác minh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường P và lời khai của những người làm chứng, trong đó có lời khai của ông Bùi Ngọc C (người cao tuôi, hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ đẻ bà S), ông Nguyễn Văn N (Khu trưởng Khu T, phường P) đều khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị S có tổ chức đám cưới, chung sông với nhau; sau đó, hai ông bà vượt biên. [2] Tại Bản chứng thực bản sao số khai sinh của anh Phạm Hồng K, sinh ngày 07/8/1981, thê hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là Nguyên Thị S. Như vậy, LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 442 có cơ sở xác định bà S và ông H có thời gian chung sống tại Việt Nam và bà S sang Hông Kông sau khi đã mang thai anh Phạm Hông K. [4] Ngoài ra, Bản sao số hộ khẩu số 500296496 do Công an thành phố M cấp ngày 03/11/2014 và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015 tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh Quảng Ninh cũng thể hiện ông Phạm Bá H có vợ là bà Nguyễn Thị S. [5] Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội “a. Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;..” [6] Điểm d Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 03/01/2001 quy định: “Nam nữ được coi là sống chung với nhau như VỢ chồng nếu họ có đủ điều kiện đề kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau: Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; Việc họ về chung sông với nhau được gia đình (một bên hoặc hai bên) chấp nhận; Việc họ vê chung sông với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; Họ thực sự chung sông với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”. [7] Điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC- VKSNDTC-BTP quy định người được coi là đang có vợ, chồng gồm “Người xác lập quan hệ vợ chông với người khác trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”. [8] Do đó, có cơ sở xác định quan hệ giữa bà S và ông H sống chung với nhau như vợ chồng trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. [9] Việc ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trong khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thực hiện việc đăng ký kết hôn cho ông H và bà L là không đúng quy định của pháp luật. [10] Tòa án cấp sơ thầm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ. [11] Tòa án cấp phúc thâm nhận định: '“Theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu lực về 5 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 443 không gian, thời gian và địa điểm trên lãnh thô Việt Nam. Còn việc ông H và bà 5 ăn ở với nhau bât hợp pháp chủ yêu là ở nước ngoài và sinh sông vào thời điêm ở trước và sau năm 1987, năm 2000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam được ban hành, sửa đôi... ” từ đó không công nhận quan hệ giữa ông H và bà § là vợ chông và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L là quan hệ hôn nhân hợp pháp là không đúng quy định pháp luật. Vì các lẽ trên; QUYÉT ĐỊNH: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 337, khoản I Điều 342, khoản 2 Điều 343 và Điêu 344 Bộ luật Tô tụng dân sự năm 2015; 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 05/2021/KN-HNGĐ ngày 27/4/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao đôi với Quyết định phúc thâm giải quyêt việc dân sự sô 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội. 2. Hủy Quyết định phúc thâm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội. 3. Giữ nguyên Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐÐDS-ST ngày 02/02/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. NỘI DUNG ÁN LỆ “[2] Căn cứ Biên bản xác mỉnh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường P và lời khai của những người làm chứng, trong đó có lời khai của ông Bùi Ngọc C (người cao tuổi, hàng xóm bên cạnh nhà bồ mẹ đẻ bà S), ông Nguyễn Văn N (Khu trưởng Khu T, phường P) đêu khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị S có tô chức đám cưởi, chung sống với nhau; sau đó, hai ông bà vượt biên. [3] Tại Bản chứng thực bản sao số khai sinh của anh Phạm Hồng K, simh ngày 07/8/1981, thể hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là Nguyễn Thị S. Như vậy, có cơ sở xác định bà S và ông H có thời gian chung sông tại Việt Nam và bà Š sang Hông Kông sau khi đã mang thai anh Phạm Hồng K. [4] Ngoài ra, Bản sao số hộ khẩu số 500296496 do Công an thành phố M cấp ngày 03/11/2014 và Hợp đông thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015 tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh Quảng Ninh cũng thể hiện ông Phạm Bá H có vợ là bà Nguyễn Thị S. [6] Do đó, có cơ sở xác định quan hệ giữa bà 5 và ông H sống chung với nhau nh VỢ chông trước năm 1987 là hôn nhân thực tế, tuy không đăng kỷ kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. /9] Việc ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết hôn sô 09 ngày 17⁄4/2017 tại Uy ban nhân dân thành phó M, tính Quảng Ninh 6 C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 444 trong khi đang tôn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chông và quy định tại điểm c khoản 2 Điễu 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ủy ban nhân dân thành phô M, tỉnh Quảng Ninh thực hiện việc đăng ký kết hôn cho ông H và bà L là không đúng quy định của pháp luật. [10] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên lủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ. LIIỊ Tòa án cấp phúc thâm nhận định: “Theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu lực về không gian, thời gian và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Còn việc ông H và bà S ăn ở với nhau bất hợp pháp chủ yếu là ở nước ngoài và sinh sống vào thời điểm ở trước và sau năm 1957, năm 2000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam được ban hành, sửa đổi... ” từ đó không công nhận quan hệ giữa ông H và bà S là vợ chỗng và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L là quan hệ hôn nhân hợp pháp là không đúng quy định pháp luật. ” C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 445 LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 54/2021/AL VỀ XÁC ĐỊNH QUYỀN NUÔI CON DƯỚI 38 THÁNG TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI MẸ KHÔNG TRỰC TIẾP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, GIÁO DỤC CON NỘI DUNG ÁN LỆ “[3] Về nội dung: Về việc nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Kiều K và anh Nguyễn Hữu P đều có nguyện vọng xin được nuôi cháu Nguyên Đắc T, sinh ngày 30/11/2016. Khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn vợ chồng, chị Phạm Thị Kiều K tự ý về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, bỏ lại cháu T mới được 04 tháng tuổi cho anh Nguyễn Hữu P nuôi dưỡng. Tại các Biên bản xác minh cùng ngày 23/01/2018 (bút lục số 19, 20, 24), Ban tự quản thôn và Chi hội phụ nữ thôn H, xã E, huyện K xác nhận: “Anh Nguyễn Hữu P nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Đắc T rất tốt. Anh P có việc làm tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ N, thu nhập ổn định, hoàn toàn đủ điều kiện để nuôi cháu T”. Mặc dù, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”, nhưng chị K đã không nuôi cháu T từ khi cháu được 04 tháng tuổi. Hiện tại, cháu T đã quen với điều kiện, môi trường sống và được anh P nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo trong điều kiện tốt nhất; nếu giao cháu T cho chị K nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét một cách toàn diện, tiếp tục giao cháu T cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm giao cháu T cho chị K nuôi dưỡng là không phù hợp, chưa xem xét đầy đủ đến quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu T.” vệ TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ mi GIẢI PHÁP PHÁP LÝ Trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh Trường hợp này, Tòa án phải tiếp tục giao chấp về quyền nuôi con dưới 3ó tháng tuổi; con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực người mẹ tự ý bỏ đi từ khi con còn rất nhỏ, tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. không quan tâm đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; người con được người cha nuôi dưỡng, chăm sóc trong điều kiện tốt và đã quen với điều kiện, môi trường sống đó. Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn
Án lệ
Án lệ số 53/2022/AL về việc hủy kết hôn trái pháp luật
Số hiệu: 53/2022/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2022
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.