L7 lu LAW FIRIR Ê SỐ 52/2021/AL" u lực NI đồng tặng cho quyền sử dụng đất khi chưa đăng ký liểu nghệ Vihny: n sử dụng đất Được Hội đồng TÌ hâm phán Tòa án nhân dân tôi cao thông qua ngày 25 tháng II năm 2021 và được công bô theo Quyêt định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng I2 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhán dân tôi cao. Nguôn án lệ: Quyết định giám đốc thâm số 231/2020/DS-GĐT ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phó Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp vệ yêu cấu tuyên hợp đồng tặng cho quyên sử dụng đất vô hiệu” giữa nguyên đơn là bà Tống Thị U với bị đơn là ông Tống Thanh V; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan gôm 46 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 23, 24, 25 và 26 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung án lệ: - Tình huồng án lệ: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập thành văn bản đã được công chứng, chứng thực; bên được tặng cho chưa đăng ký quyên sử dụng đât do trở ngại khách quan thì bên tặng cho tài sản chêt. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: - Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015); - Điều 692, Điều 722 đến Điều 726 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 502, Điêu 503 Bộ luật Dân sự năm 2015); - Khoản 1 Điều 106; điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2003 (tương ứng với khoản 1 Điêu 95, khoản 3 Điêu 167; khoản 1, 3 Điêu 188 Luật Đât đai năm 2013); - Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đât đai năm 2003. Từ khóa của án lệ: “Tặng cho quyền sử dụng đât”; “Chưa đăng ký quyền sử dụng đất”; “Trở ngại khách quan”; “Người tặng cho đã chêt”; “Hợp đông tặng cho có hiệu lực pháp luật”. !Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 427 NỘI DUNG VỤ ÁN: Nguyên đơn bà Tổng Thị U (bà U) trình bày yêu cầu khởi kiện như sau: Cha, mẹ bà Tống Thị U là cụ Tống Văn T (chết vào năm 2007) và cụ Nguyễn Thị C1 (chêt vào năm 2011), có I1 người con. Vào năm 2007, cụ T chết, không có di chúc. Vào ngày 16/11/2009, cụ C1 và những người con thỏa thuận lập văn bản phân chia di sản thừa kế của cụ T. Theo sự thỏa thuận, cụ CI được phân chia nhiều thửa đất và đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, trong đó có thửa số 257, tờ bản đồ số 16, điện tích đất 4.149 m° và các thửa số 6, 18, 31, 32, 51 và 52, tờ bản đồ số 15, diện tích 12.883 m? cùng tọa lạc tại khu phó X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương. Lợi dụng việc cụ CÏ già yếu, bệnh tật, không còn minh mẫn và không biết chữ, ông Tông Thanh V (ông V) đã lừa gạt, để cụ CI ký vào duy nhất trang 03 của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/6/2010. Cụ CI không có mặt tại trụ sở của Uỷ ban nhưng Chủ tịch Uỷ ban nhân nhân (UBND) thị trắn (nay là phường) Y vẫn chứng thực vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Sự việc chứng thực nói trên đã vi phạm quy định về công chứng, chứng thực. Từ hợp đồng tặng cho xác lập trái pháp luật, ông V đã được câp giây chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất 12.883 m”. Hiện nay, thửa đất số 257 có diện tích 4.149 mể, vẫn do cụ C1 đứng tên là chủ sử dụng. Bà U khởi kiện, yêu cầu như sau: - Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có sỐ chứng thực III, quyên 1/2010TP/CC-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Y chứng thực vào ngày 14/6/2010 là vô hiệu; - Xác định phần đất có diện tích 9.839,9 m? (đã trừ phần diện tích của ông Tống Văn LI và Tống Văn PI đang sử dụng) thuộc các thửa 6, I8, 31, 32, 5T và 52 tờ bản đồ số 15 và phần đất có diện tích 3.786, m7 (theo kết quả đo đạc thực tế ngày 08/3/2013) thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại phường Y, thị xã Z là di sản do cụ C1 để lại; - Phân chia di sản của cụ C1 để lại nói trên theo quy định của pháp luật; bà U yêu câu được nhận thừa kê băng hiện vật. Bị đơn ông Tổng Thanh V (ông V) trình bày ÿ kiến như sau: Cụ CI đã tặng cho ông V tất cả những phần đất mà bà U nêu trên; việc tặng cho được thực hiện bằng hợp. đồng có chứng thực hợp pháp và hiện nay, ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 12.883 mứ. Sau khi được tặng cho đất, ông V đã phân chia lại cho các anh, chị, em khác trong gia đình, mỗi người được một phân và đã chuyên nhượng cho một sỐ người bằng giấy viết tay. Hiện ông Tống Văn LI (ông L]) sử dụng 1.597 m ? đất, ông Tống Văn PI (ông PI) sử dụng 2.418 mẺ đất trong tông số 12.883 m° đất mà ông V đã có giấy chứng nhận quyên sử dụng; ông V đồng ý để ông LI và ông 2 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 428 PI tiếp tục sử dụng diện tích đất này. Đối với phần đất thuộc thửa 257, sau khi hợp đồng tặng cho được chứng thực, ông V đã nộp hồ SƠ đăng ký sang tên quyên sử dụng đất nhưng cho đến nay, ông V chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do là vì: do bản đồ tổng thể khu vực nảy bị sai sót, Ủy ban nhân dân địa phương phải chỉnh sửa và tiếp sau đó, phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất. Những phần đất nói trên đều do ông V sử dụng từ khi cụ C1 còn sống cho đên nay. Theo ông V, quyền sử dụng đất diện tích 3.786, m2 thuộc thửa số 257, tờ bản đô sô 16 tại phường Y không còn là di sản của cụ CI vì đã chuyên nhượng cho đương sự. Vì vậy, ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà U. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tổng Hữu HI (ông HI), bà Nguyên Thị Œ (bà Œ) và ông Tóng Văn PI (ông PÏ]) trình bày ý kiên như sau: Quyên sử dụng diện tích đất 3.786,I m? thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 và quyền sử dụng diện tích đất 9.839,9 m° thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 5I và 52 tờ bản đồ số 15 tại phường Y là đi sản do cụ C1 để lại; yêu cầu Tòa án chỉa thừa kế theo pháp luật. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tổng Thị Thu T1 (bà T1) trình bày ÿ kiên như sau: Quyền sử dụng diện tích đất 3.786,1 m2 thuộc thửa số 257 là đi sản do cụ C1 để lại nên yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Đối với quyền sử dụng diện tích đất 9.839,9 m7 thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51 và 52, cụ CI đã tặng cho ông V. Sau đó, ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông V đã phân chia đất cho bà T1 nên bà T1 không có yêu cầu gì đối với phần đất này. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tổng Thị NI (bà NI), bà Tổng Thị N2 (bà N2), bà Tổng Thị Kim A (bà A), bà Tổng Thanh N3 (bà N3) và ông Tổng Phước T2 (ông T2) trình bày ý kiên như sau: Những tài sản mà bà U yêu cầu chia nói trên, đã được cụ CI tặng cho ông V theo hai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Y chứng thực vào ngày 14/6/2010. Do đó, các đương sự không yêu cầu chia thừa kế. Trong trường hợp Tòa án có phân chia thừa kế, thì các đương sự đồng ý giao di sản lại cho ông V. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tổng Văn LI (ông LI) trình bày ý kiên như sau: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông, bả nội của ông LI để lại cho cha, mẹ ông LI. Trong thời gian ông LI tham gia cách mạng, cụ Tống Văn T (là anh của ông LI) kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. Sau đó, cụ T chia lại cho ông LI phân đất mà hiện nay, ông L1 đang ở, có chiều dài §0 m thuộc thửa 18 theo giấy viết tay ngày 10/12/2002; còn các phần đất tranh chấp khác, ông L1 không liên quan gì. 3 LUẬT SƯ FDVN 429 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị C2 (bà C2) và ông Tông Thành 13 (ông T3) trình bày ý kiên như sau: -_ Bà C2 là vợ của ông V; anh T3 là con của ông V. Các đương sự không đông ý với yêu câu khởi kiện của bà U. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tổng Ngọc L2 (chị L2) trình bày ÿ kiên như sau: Chị L2 là con của ông Tống Phước T2 và bả Nguyễn Thị H2; nếu là tải sản của cha, mẹ thì chị L2 đê nghị Tòa án giải quyêt theo quy định pháp luật. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tổng Thiên K] (chị K]) trình bày ÿ kiên nhự sau: Chị K1 là con của ông Tống Văn L1; đương sự không có yêu cầu gì trong vụ án. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H2 (bà H2) trình bày ÿ kiên nhự sau: Bà H2 là vợ của ông Tống Phước T2; bà H2 không tranh chấp với ông V. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành L3 (anh L3) trình bày ý kiên như sau: Anh L3 là con của bà Tống Thanh N3; nếu là tài sản của bà N3, đề nghị Tòa án giải quyêết theo quy định của pháp luật. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Văn 1 (ông 1) và anh Võ Văn M (anh M) trình bày ý kiên như sau: Ông T4 là chồng bà N2; anh M là con bà N2, ông T4 và anh M không đồng ý với yêu câu khởi kiện của bà U. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tổng Thị Tuyết N4 (chị N4) và anh Tông Thành P2 (anh P2) trình bày ý kiên như sau: Chị N4, anh P2 là con của ông Tống Văn PI và bà Võ Thị B; nếu là tài sản của cha, mẹ, thì đương sự không có yêu câu gì. _ Người kế thừa quyên, nghĩa vụ tố tụng của bà Võ Thị B (bà B) trình bày ÿ kiến như sau: Ông Tống Văn PI, bà Nguyễn Thị K2, chị Tống Thị Tuyết N4, ông Tống Thành P2, ông Tống Thanh T5, bà Tống Thị Mộng Tó, bà Tống Thị Thùy DI đồng ý với ý kiến của bà B đã trình bày và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bả U. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D2 (ông D2), bà Trương Thị L4 (bà L4), bà Trân Thị Mộng T7 (bà T7), ông Nguyễn Văn C3 (ông C3), ông Trương Đình P3 (ông P3), bà Phạm Thị T8 (bà T8), ông Hồ Bá H3 (ông H3), bà Nguyễn Thị T9 (bà T9), ông Lê Chí V1 (ông VI), bà Võ Thị Thanh T10 (bà T10), bà Lương Thị T11 (bà T11), ông Lương Thể T12 (ông T12), ông Nguyễn Đức T13 (ông T13), bà Lê Thị H4 (bà H4), bà Lương Thị MI (bà MI), ông Lê Doãn T14 (ông T14), ông Lại Văn T15 (ông T15), bà Đỗ Thị H5 (bà H5) và bà Chu Thị Kim X (bà X) cùng có ý kiến như sau: 4 C2 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 430 Các đương sự đã nhận chuyên nhượng đất từ ông V bằng giấy viết tay, đã thanh toán xong tiền và đã Xây, dựng nhà ở trên đất; việc chuyên nhượng là sự thỏa thuận riêng với ông V. Nếu việc giải quyết vụ án này có ảnh hưởng đến quyên lợi của mình thì các đương sự sẽ khởi kiện và tranh chấp với ông V bằng vụ án khác. Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thị xã Z, tỉnh Bình Dương trình bày ý kiên như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00091 và CH 00092 ngày 02/3/2010 do Ủy ban nhân dân huyện Z. cấp cho cụ Nguyễn Thị CI trên cơ sở thừa kế quyền sử dụng đất; việc cấp giấy thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 23 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngảy 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH0539 ngày 16/8/2010 do Ủy ban nhân dân huyện Z. cấp cho ông Tống Thanh V trên cơ sở nhận tặng cho quyền sử dụng đất, được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 23 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngảy 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương trình bày ý kiến như sau: Theo yêu cầu của cụ Nguyễn Thị C1, công chức Tư pháp — Hộ tịch của Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Y đã đến nhà cụ CI để giải thích và soạn thảo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo mẫu quy định; công chức Tư pháp — Hộ tịch có đọc lại toản bộ nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho các bên cùng nghe. Sau đó, cụ CI và ông V ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt công chức Tư pháp — Hộ tịch. Tại thời điểm kí tên, điểm chỉ, cụ C1 và ông V hoàn toàn minh mẫn và tự nguyện, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Sau khi các bên ký tên và điểm chỉ, Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Y đã lập thủ tục chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số chứng thực là 111 và 112, quyền số 1.2010/TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 14/6/2010 theo đúng quy định của pháp luật. Tại Bản án dân sự sơ thấm số 17/2019/DS-ST ngày 09/5/2019, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương quyêt định như sau: 1, Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tt ống Thị U đổi với bị đơn ông Tổng Thanh V về tranh cháp về thừa kê tài sản. Chia di sản của cụ Nguyễn Tì hị CT là quyền sử dụng diện tích đất theo đo đạc thực tế 3.786,1 m? thuộc thửa số 257, tờ bản đô số 16 tại khu phố X, phường Y, thị xã Z đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Z cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng số vào số cấp giáy chứng nhận quyên sử dụng đất CH00091 ngày 02/3/2010 đứng tên cụ Nguyễn Thị C1 như sau: Bà Tổng Thị U được hưởng di sản thừa kế là quyên sử dụng đất diện tích đất 344,1 mi. LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 431 __ Các thừa kế của ông Tổng Văn H6 gôm bà Nguyễn Thị Œ, Tổng Minh H7, Tông Thị Kim T16, Tông Thị Kim P4, Tông Thị Kim L5 được hưởng di sản thừa kê là quyên sử dụng đất diện tích đát 344, 1 mỉ. Bà Tổng Thị Thu T1 được hưởng di sản thừa kế là quyên sử dụng đất diện tích đát 344,1 m?. Ông Tổng Văn P1 được hưởng di sản thừa kế là quyên sử dụng đất diện tích đất 344,1 mì. Ông Tổng Hữu HI được hưởng di sản thừa kế là quyên sử dụng đất diện tích đát 344,1 m?. Ông Tổng Thanh V, bà Tổng Thị NL bà Tổng Thị N2, bà Tống Thị N3, ông Tông Phước T2 và bà Tổng Thị Kim A4 môi người được hưởng di sản thừa kê là quyên sử dụng đát diện tích đất 344,1 m°. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tổng Thị NI, bà Tổng Thị N2, bà Tổng Thị M3, ông Tổng Phước T2 và bà Tổng Thị Kim A về việc giao kỷ phần được hưởng cho ông Tổng Thanh V. Như vậy, kỷ phần ông V được hưởng di sản thừa kế là quyên sử dụng đất diện tích đất 2.065,6 mử. Đối với cây trông có trên đất của ai thì người đó quản lý, sử dụng. 2. Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn bà Tổng Thị U về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyên sử dụng đất, số chứng thực là 111, quyển số 1/⁄2010/TP/CC-SCT/HĐŒD do Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Y chứng thực ngày 14/6/2010 vô hiệu; xác định diện tích 9.839,9 m° thuộc các thửa 6, l8, 3l, 32, 5] và 52, tờ bản đồ số 15 theo Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất số CH00539 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Z cấp ngày 16/8/2010 cho ông Tống Tì hạnh V là di sản của cụ Nguyễn Thị C1 và chia di sản do cụ Nguyễn Thị C1 là quyên sử dụng diện tích đất 9.839,9m”, thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51 và 52 tờ bản đồ số 15 tại phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương. _3. Đình chỉ xét xử yêu câu khởi kiện của nguyên đơn bà Tổng Thị U đối với phán diện tích 1.597 m? thuộc thửa 18 và diện tích 2.418 m thuộc thửa số 6 tại phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương. Ngoài ra, Tòa án còn tuyên về án phí, chi phí đo đạc, định giá, giám định, trách nhiệm chậm thi hành và quyên kháng cáo của các đương sự. __ Vào ngày 20/5/2019, ông Tống Thanh V kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thâm theo hướng không châp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của bà U. Vào ngày 22/5/2019, bà U kháng cáo bản án sơ thâm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thâm xét xử châp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của đương sự. Tại Bản án dân sự phúc thấm số 276/2019/DS-PT ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định như sau: Không chấp nhận yêu câu kháng cáo của nguyên đơn bà Tổng Thị U, bị đơn ông Tông Thanh Ƒ Sửa một phân bản án sơ thẩm (về phần án phí) các nội dung khác của Bản án 6 % LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 432 dân sự sơ thấm số 17/2019/DS-ST ngày 09/5/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giữ nguyên. Ngoài ra, Tòa án câp phúc thâm còn tuyên về án phí, quyên và nghĩa vụ thi hành án, hiệu lực của bản án. Vào ngày 06/01/2020, ông Tổng Thanh V có đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đôc thâm đôi với bản án dân sự phúc thâm nêu trên. Tại quyết định kháng nghị số 96/2020/KN-DS ngày 22/6/2020, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thâm hủy một phân bản án dân sự phúc thâm về phân chia di sản của cụ Nguyễn Thị C1 là quyền sử dụng diện tích đất (theo đo đạc thực tế) là 3.786,lm” thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương: giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại theo thủ tục phúc thâm. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hỗ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần bản án dân sự phúc thâm về phân chia di sản của bà Nguyễn Thị C1 là quyền sử dụng diện tích đất (theo đo đạc thực tế) là 3.786,Im” thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương: giao hỗ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại theo thủ tục phúc thấm. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1I Cụ Tống Văn T (chết vào năm 2007) và cụ Nguyễn Thị CI (chết vào ngày 08/9/2011), là vợ chồng, có I1 người con, kế ra như sau: Bà Tống Thị U (là nguyên đơn), ông Tống Thanh V (là bị đơn), ông Tống Văn PI, ông Tống Văn H6 (chết vào ngày 18/02/2012, có vợ là bà Nguyễn Thị G và có những người con như sau: Tống Minh H7, Tống Thị Kim T16, Tống Thị Kim P4, Tống Thị Kim L5), bà Tống Thị N1, ông Tống Hữu HI, bà Tống Thị N2, bà Tống Thị Kim A, bà Tống Thanh N3, ông Tống Phước T2, bà Tống Thị Thu TI. [2] Sau khi cụ T chết (năm 2007), vào ngày 16/11/2009, cụ C1 và những người con (của cụ T, cụ CT) lập văn bản, thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất; văn bản có sự chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Z⁄, tỉnh Bình Dương vào cùng ngày 16/11/2009. [3] Theo văn bản phân chia tài sản thừa kế nói trên, cụ C1 được chia 03 phân đất tại thị trần Y, gồm có: (a) 854m” đất thuộc các thửa số 31, 32, 51 tờ bản đồ số 15; (b) 17.762m2 đất thuộc các thửa số 06, 108, 109, 110, 115, 18, 52, 128, 129, 135, 136, 35, 38, 40, 54, 55 tờ bản đồ số 15, 16; (c) 4.119m2 đất thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 16. [4] Sau khi được chia tài sản nói trên, cụ CI đã kê khai, đăng ký và được câp giây chứng nhận quyên sử dụng đât vào ngày 02/3/2010. Như vậy, kê từ 7 LUẬT SƯ EDVN 433 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, các phần đất này trở thành tài sản riêng của cụ C1 và đương sự có quyên định đoạt đôi với sô tài sản nảy theo quy định của pháp luật dân sự. [5] Xét, vào cùng ngày 14/6/2010, cụ CI lập 02 hợp đồng để tặng cho ông V 02 phần đất trong số tài sản nói trên, như sau: Phần đất thứ nhất có diện tích 12.883m? thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ bản đồ số 15 thị trấn Y; Phần đất thứ hai có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257 tờ bản đô số 16 thị trấn Y. Hai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đều được Ủy ban nhân dân thị trấn Y chứng thực hợp pháp vào cùng ngày 14/6/2010. [6] Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, ông V đã thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật để chuyên tên chủ sử dụng đất từ cụ CI sang cho đương sự. Vào ngày 16/8/2010, ông V đã được Ủy ban nhân dân huyện Z cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 12.883m? thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ bản đồ số 15 thị trấn Y (giấy chứng nhận quyên sử dụng đất số CH00539 ngày 16/8/2010). Trong phần đất này, phía bà U chỉ đòi chia thừa kế đối với diện tích đất 9.839,9m? (bởi vì bà U đồng ý trừ ra diện tích đất còn lại mà ông V đã phân chia cho ông LI và ông PI). L7] Đối với phần đất có diện tích 4. 119m? thuộc thửa 257, tờ bản đồ sỐ 16, thị trấn Y (theo kết quả đo đạc thực tế vào ngày 08/3/2013 của Tòa án cấp sơ thâm, diện tích đất là 3.786,Im?), hiện nay ông V vẫn chưa được đứng tên là chủ sử dụng đất. Lý do ông V nêu ra là, sau khi nộp hồ sơ kê khai, đăng ký để chuyên tên từ cụ CI sang cho đương sự, thì Ủy ban nhân dân địa phương cần chỉnh sửa bản đồ tông thê đất đai và tiếp sau đó, có sự tranh chấp từ phía bà U, nên việc chuyên tên chưa thực hiện được cho đến nay. [8] Xét, đối với phần đất có diện tích 12. 883m” thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ bản đỗ số 15 thị trấn Y (trong phần đất này, phía bà U chỉ đòi chia thừa kế đối với diện tích đất 9.839,9m? bởi vì bà U đồng ý trừ ra diện tích đất còn lại mà ông V đã phân chia cho ông LI và ông PI): [9] Theo văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 16/11/2009 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/6/2010, thì phần đất này là tài sản riêng của cụ CÏ đã tặng cho ông V và ông V đã được Ủy ban nhân dân huyện Z câp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp vào ngày 16/8/2010 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00539 ngày 16/8/2010). [10] Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thâm và Tòa án cấp phúc thâm xác định rằng phần đất có diện tích 12.883m? thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ bản đồ số 15 thị trấn Y là tải sản hợp pháp của ông V, không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất này là có căn cứ pháp luật. [11] Xét, đối với phần đất có diện tích 4.1 19m” thuộc thửa 257 tờ bản đồ số 1ó, thị trân Y (theo kêt quả đo đạc thực tê vào ngày 08/3/2013 của Tòa án câp sơ thâm, diện tích đât là 3.786,lm?): [12] Tại thời điềm xác lập hợp đồng tặng cho quyên sử dụng đất ngày 14/6/2010 (từ cụ CI chuyên cho ông V), Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực pháp luật. là LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 434 [13] Điều 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hiệu lực của giao dịch chuyên quyên sử dụng đât như sau: “Việc chuyên quyên sử dụng đất có hiệu lực kê từ thời điểm đăng ký quyên sử dụng đát theo quy định của pháp luật về đát đai ”. [14j Như vậy, về mặt pháp lý, cho đến khi người nhận chuyền quyền sử dụng đất (theo giao dịch tặng cho) chưa kịp đăng ký quyền sử dụng đất cho mình, mà người chuyển quyên sử dụng đất đã chết, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất sẽ không có hiệu lực pháp luật. [15] Nếu xét theo lập luận nói trên, việc Tòa án cấp sơ thâm và Tòa án cấp phúc thấm xác định răng phần đất có diện tích 4.1 19m thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 16, thị trấn Y, cho đến nay vẫn là di sản của cụ C1 chưa chuyền dịch cho ông V và chấp nhận yêu cầu thừa kế tài sản, là đúng. [16] Xét về bản chất pháp lý, hợp đồng tặng cho tài sản là loại hợp đồng đơn vụ, nghĩa là trong loại hợp đồng này, chỉ một bên có nghĩa vụ đối với bên kia. Vì thế, trong một SỐ trường hợp như trường hợp cụ thể nói trên (người được tặng cho quyên sử dụng đất chưa kịp đăng ký quyên sử dụng đất cho mình, mà người tặng cho quyên sử dụng đất đã chết), Tòa án có thể xem xét và công nhận hiệu lực pháp luật của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập vào ngày 14/6/2010 khi xác định rằng hợp đồng nảy là văn bản thể hiện ý chí sau cùng của cụ Cl đối với tài sản của đương sự, là văn bản thể hiện quyên định đoạt tài sản của đương sự trước khi chết, vì đã có những điều kiện cần và đủ như sau: [17] Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất; [18] Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào để thay thế hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết trước đó và không có hảnh động nào thê hiện sự thay đổi ý chí đã thể hiện tại hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết; [I9] Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản (quyên sử dụng đât) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tài sản. [20] Về mặt thực tế, ông V là người đã chiếm hữu, quản lý, sử dụng phần đât được tặng cho kê từ khi cụ C1 còn sông cho đên nay bởi vì đương sự là người con út, sông với cụ T, cụ CT từ nhỏ cho đên khi cụ T, cụ CI chết. [2I] Lập luận nói trên cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao thừa nhận tại quyết định kháng nghị số 470/2013/KN-DS ngày 03/10/2013 và quyết định giám đốc thắm sô 76/2014/DS-GĐT ngày 05/3/2014 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao khi giải quyết trường hợp tương tự (vụ án tranh chấp về hợp đồng tặng cho tài sản giữa nguyên đơn là bà Đoàn Việt T17; bị đơn là ông Đoàn Phong BI và ông Đoàn Văn K3 xảy ra tại tỉnh Cà Mau). [22] Như vậy, Tòa án cấp sơ thâm và Tòa án cấp phúc thâm đều chưa đánh giá đúng và toàn diện các tài liệu, chứng cứ, cũng như chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xét xử đúng vê việc tranh chấp phần đất có diện tích 4.119m” thuộc thửa 257, tờ bản đỗ số 16, thị trấn Y, huyện Z,„ tỉnh Bình Dương, 9 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 435 theo sự phân tích nói trên. Do đó, Ủy ban Thấm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy phần bản án phúc thâm giải quyết về việc tranh chấp phần đất có diện tích 4.119m” thuộc thửa 257 tờ bản đồ số 16 thị trấn Y, huyện Z„ tỉnh Bình Dương, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thâm xét xử lại theo thủ tục phúc thâm. [23] Khi xét xử lại vụ án, nếu hợp đồng tặng cho quyên sử dụng đất xác lập vào ngày 14/6/2010 giữa cụ CI (bên tặng cho) và ông V (bên được tặng cho) có đủ các điều kiện cần và đủ liệt kê dưới đây, thì phải công nhận hiệu lực của hợp đồng: các điều kiện đó là: 24] Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất; [25] Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào đề thay thê hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kêt trước đó và không có hành động nào thê hiện sự thay đôi ý chí đã thê hiện tại hợp đông tặng cho tài sản đã ký kêt; [26] Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản (quyên sử dụng đât) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tài sản. Vì các lẽ trên, QUYÉT ĐỊNH: _ Căn cứ Điêu 325; Điễu 334; Điêu 337; Điều 342 và Điều 343 của Bộ luật Tô tụng dân sự năm 2015; 1. Chấp nhận kháng nghị số 96/2020/KN-DS ngày 22/6/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phô Hô Chí Minh. Hủy bản án dân sự phúc thắm số 276/2019/DS-PT ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về yêu câu tuyên hợp đồng tặng cho quyên sử dụng đất vô hiệu ” giữa nguyên đơn là bà Tống Thị U; bị đơn là ông Tống Thanh V, về phần giải quyết tranh chấp phần đất có diện tích 4.I 19m thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 16, thị trấn Y, huyện Z. tỉnh Bình Dương (theo kết quả đo đạc thực tế vào ngày 08/3/2013 của Tòa án cấp sơ thẩm, diện tích đất là 3.786,Im?). 2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại theo thủ tục phúc thâm đôi với bản án bị hủy nói trên. NỘI DUNG ÁN LỆ “[23] Khi xét xử lại vụ án, nếu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập vào ngày 14/6/2010 giữa cụ CÏ (bên tặng cho) và ông V (bên được tặng cho) có đủ các điều kiện cần và đủ liệt kê dưới đây, thì phải công nhận hiệu lực của hợp đồng; các điều kiện đó là: J24] Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất; [25] Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào để 10 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 436 thay thể hợp động tặng cho tài sản đã ký kết trước đó và không có hành động nào thê hiện sự thay đổi ý chí đã thê hiện tại hợp đồng tặng cho tải sản đã ký kết; J26] Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản (quyên sử dụng đát) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tải sản. ” II % LUẬT SƯ EDVN 437 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 53/2021⁄/AL VỀ VIỆC HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT NỘI DUNG ÁN LỆ “[2] Căn cứ Biên bản xác minh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường P và lời khai của những người làm chứng, trong đó có lời khai của ông Bùi Ngọc C (người cao tuổi, hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ đẻ bà S), ông Nguyễn Văn N (Khu trưởng Khu T, phường P) đều khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị S có tổ chức đám cưới, chung sống với nhau; sau đó, hai ông bà vượt biên. [3] Tại Bản chứng thực bản sao số khai sinh của anh Phạm Hồng K, sinh ngày 07/8/1981, thể hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là Nguyễn Thị S. Như vậy, có cơ sở xác định bà S và ông H có thời gian chung sống tại Việt Nam và bà S sang Hồng Kông sau khi đã mang thai anh Phạm Hồng K. [4] Ngoài ra, Bản sao số hộ khẩu số 500296496 do Công an thành phố M cấp ngày 03/11/2014 và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015 tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh Quảng Ninh cũng thể hiện ông Phạm Bà H có vợ là bà Nguyễn Thị S. [8] Do đó, có cơ sở xác định quan hệ giữa bà S và ông H sống chung với nhau như vợ chồng trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. [9] Việc ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trong khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thực hiện việc đăng ký kết hôn cho ông H và bà L là không đúng quy định của pháp luật. [10] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ. [If] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu lực về không gian, thời gian và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Còn việc ông H và bà S ăn ở với nhau bất hợp pháp chủ yếu là ở nước ngoài và sinh sống vào thời điểm ở trước và sau năm 1987, năm 20000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam được ban hành, sửa đổi...” từ đó không công nhận quan hệ giữa ông H và bà S là vợ chồng và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L là quan hệ hôn nhân hợp pháp là không đúng quy định pháp luật.” Ð#w@ \ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ El TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực), không đăng ký kết hôn, có tổ chức lễ cưới và có thời gian chung sống tại Việt Nam. Sau đó, hai bên ra nước ngoài sinh sống và phát sinh mâu thuẫn. Khi chưa giải quyết ly hôn thì một bên đăng ký kết hôn với người khác tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Trường hợp này, Tòa án phải xác định quan hệ hôn nhân đầu tiên là hôn nhân thực tế. Khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế mà một bên đăng ký kết hôn với người khác tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì việc kết hôn này là trái pháp luật. Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn
Án lệ
Án lệ số 52/2021/AL về hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất khi chưa đăng ký quyền sử dụng đất
Số hiệu: 52/2021/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2021
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.