Án lệ

Án lệ số 49/2021/AL về xác định quyết định hành chính ban hành không đúng thẩm quyền

Số hiệu: 49/2021/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2021
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

FDVN LAW FIk SÓ 49/2021/AL" Về la th tu liùh hãnh hính ban hành không đúng thâm quyền Được Hội đồng Thẩm phản Tò òa án nhân dân tôi cao thông qua ngày 25 tháng II năm 2021 và được công bồ theo Quyết định só 594/QĐ-CA ngày 31 tháng I2 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thâm số 06/2019/HC-GĐT ngày 02/04/2019 của Hội đồng Thâm phán Toà án nhân dân tối cao về vụ án “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa người khởi kiện là ông Thái Văn N với người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là Nhà thờ V. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 3 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung án lệ: - Tình huồng án lệ: ___. Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành quyết định hành chính giải quyết tranh chập đât đai mà tranh châp đó liên quan đên hợp đông vê quyên sử dụng đât. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án; Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành quyết định hành chính giải quyết tranh chấp đất đai là không đúng thâm quyền. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: __- Khoản 3 Điều 25 Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2004 (tương ứng với khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tô tụng dân sự năm 2015); - Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 (tương ứng với Điều 203 Luật Đất đai năm 2013). Từ khóa của án lệ: “Quyết định hành chính”; ““Tranh chấp đất đai”; “Hợp đồng về quyền sử dụng đất”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Tại Đơn khởi kiện đề ngày 24/9/2012 và trong quá trình giải quyết, ông Thái Văn N trình bày: Nguôn gôc phân đât tranh châp giữa Nhà thờ V (gọi tắt là Nhà thờ) với hộ gia đình ông Thái Văn N là của Nhà thờ, do cụ Nguyên Văn Q và cụ Nguyên Thị S là cha, mẹ của ông Nguyên Phước T và một phân do ông lÁn lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất. | LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 396 Nguyễn Văn E hiến cho Nhà thờ năm 1960. Năm 1961, Nhà thờ được xây dựng với chiều ngang 11m. Năm 1976, Nhà thờ cho ông N cất nhà ở trên đất Nhà thờ và trông coi Nhà thờ (do ông N là giáo dân họ đạo), với diện tích chiều ngang lóm, dài từ Quốc lộ 80 đến sông P (khoảng 30m). Ông N cất nhà ở trên phần đất ngang 5m, phần đất chiều ngang còn lại, ông N trồng chuối và xoài. Trong quá trình sử dụng đất, năm 1986 gia đình ông N có xây thêm 02 phòng ở và 01 nhà bếp giáp với nhà chính. Năm 1999, đất Nhà thờ bị sạt lở nên Nhà thờ đã di dời sang phần đất đối diện (bên kia Quốc lộ 80). Phần đất cũ của Nhà thờ được giao một phần cho ông Nguyễn Phước T là con của cụ Q (chủ đất cũ) và giao một phần cho vợ chồng bà M, ông K để đổi lẫy vật tư xây dựng Nhà thờ. Riêng diện tích đất của gia đình ông N sử dụng làm nhà ở (gồm nhà xây dựng năm 1976 và 02 phòng ngủ, 01 phòng bếp xây dựng năm 1986) gia đình ông N vẫn tiếp tục sử dụng. Ngày 18/01/2003, Linh mục quản nhiệm Nguyễn Quang D cùng đại diện Ban Quới chức Họ đạo Nhà thờ V lập “7ở giao đá?” giao cho ông Ñ sử dụng phân đât chiêu ngang 1Öm, chiêu dài từ Quôc lộ 80 đên sông P 30m, tông diện tích là 300m”. Năm 2009, ông N sửa chữa nhà chính kiên cô và cất thêm cửa hàng mua bán điện thoại di động, Nhà thờ không đông ý nên xảy ra tranh châp, ông N cho răng ông đã được Linh mục quản nhiệm Nguyên Quang D cùng đại diện Ban Quới chức Họ đạo Nhà thờ V cho đât theo “7ở giao đái” ngày 18/01/2003. Theo Trích đo bản đô địa chính do Văn phòng Đăng ký quyên sử dụng đât huyện P ngày 01/9/2011 thì nhà chính của ông N có diện tích 134,7m” (ngang 5,8m), cửa hàng điện thoại di động 102,2m' (ngang 4,4m). Nhà thờ đã có đơn đến Ủy ban nhân dân tỉnh Ð đề nghị giải quyết. Ngày 14/5/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð ban hành Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ giải quyết tranh châp đât đai, có nội dung: “Điêu 1: Công nhận quyên sử dụng đất cho ông Thái Văn N phần diện tích có vị trí khu vực như sau: + Phía Đông giáp ông Nguyễn Phước T, cạnh 23,8m. + Phía Tây giáp đất Nhà thờ, cạnh 24,3m. + Phía Nam giáp QL 60, cạnh 5,ồm. + Phía Bắc giáp sông P, cạnh 5,4m. - Công nhận quyền sử dụng đất cho Nhà thờ V diện tích có vị trí khu vực như sau: + Phía Đóng giáp ông Thái Văn N, cạnh 24,31. + Phía Tây giáp bà Huỳnh Thị M, cạnh 23, 7m. + Phía Nam giáp QL 60, cạnh 4,4m. + Phía Bắc giáp sông P, cạnh 4,2m. 2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 397 (Kèm theo bản đô trích ẩo của Văn phòng Đăng ký quyên sử dụng đất huyện P xác lập ngày 01/9/2011). Buộc ông N di dời vật kiến trúc, cây trồng (nếu có) để giao trả lại phần đất trên cho nhà thở sử dụng ”. Ngày 24/9/2012, ông N có đơn khởi kiện để nghị Tòa án hủy Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 của Chủ tịch Uy ban nhân dân tỉnh Ð. - Ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh Ð: Nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn E hiến cho Nhà thờ năm 1960, diện tích ngang 28m, dài từ Quốc lộ 30 đến sông P. Nhà thờ xây dựng năm 1969, diện tích chiều ngang 8m. Năm 1976, Nhà thờ giao cho ông Ñ phần đất ngang khoảng 4m dài từ Quốc lộ 80 đến sông P để cất nhà ở và trông coi Nhà thờ, phần đất còn lại ô ông N trồng một số cây ăn trái. Năm 1999, Nhà thờ xuống cấp nên di chuyền đến vị trí khác. Đất đã giao cho chủ cũ một phần, một phần trao đổi với ông K để lấy vật tư xây dựng Nhà thờ mới. Ngày 18/01/2003, Linh mục quản nhiệm Nguyễn Quang D cùng đại diện Ban Quới chức Họ đạo Nhà thờ V lập “Tờ giao đát” giao cho ông N sử dụng phân đât chiêu ngang 10m, chiêu dài từ Quốc lộ 80 đên sông P, diện tích 300m”. Năm 2009, ông N sửa chữa, xây dựng mới nhà, mở rộng cất hết phần đất chiều ngang 10m thì xảy ra tranh chấp với Nhà thờ. Khi Nhà thờ khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð giải quyết bằng Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 giao cho ông NÑ được quyên sử dụng diện tích ngang cạnh là 5,8m và 5,4m, chiều dài cạnh 23,8 m và 24,3 m, phần còn lại buộc ông N phải di dời vật kiến trúc, cây trồng trả lại diện tích đất cho Nhà thờ sử dụng. Quyết định trên là đã xem xét quá trình sử dụng đất của gia đình ông N, tuy năm 2003 Linh mục Nhà thờ V có làm “7ở giao đất” cho ông N nhưng chưa được chính quyền địa phương chứng thực nên không có giá trị pháp lý. Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Ð là có căn cứ, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông N. - Ý kiến của Nhà thờ V: Nguồn gốc đất của Nhà thờ được giáo dân họ đạo là ông Q hiến diện tích ngang 2Im, dài từ Quốc lộ 80 đến sông P và ông E bán diện tích ngang 7m dài từ Quốc lộ §0 đến sông P vào năm 1960. Tổng cộng chiều ngang 28m dài từ Quốc lộ 80 đến sông P. Năm 1961, xây dựng Nhà thờ chiều ngang 11m. Năm 1976, Nhà thờ có cho gia đình ông N (gia đình ông N là giáo dân họ đạo) sử dụng phần đất ngang 4m, chiều dài từ Quốc lộ 80 đến mé sông đề cất nhà ở và trông coi Nhà thờ, diện tích đất còn lại thì gia đình ông N trồng cây ăn trái (xoài, chuối). Năm 1986, gia đình ông N xây cất thêm hai phòng ở và một nhà bếp giáp với nhà chính. Năm 1999, đất Nhà thờ bị sạt lở, Nhà thờ được sự cho phép của Ủy ban nhân dân tỉnh di dời sang phần đất đối diện để xây dựng lại. Phân đất cũ của Nhà thờ, Nhà thờ giao lại cho ông T 01 phần, do ông T là con của ông Q (chủ LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 398 đất cũ) và giao cho vợ chồng bà M, ông K một phần đất để đổi lấy vật tư xây dựng Nhà thờ. Ngày 18/01/2003, Linh mục quản nhiệm Nhà thờ là ông Nguyễn Quang D cùng Ban Quới chức họ đạo Nhà thờ V có làm tờ giao đất cho gia đình ông N chiều ngang 10m, chiều dài từ Quốc lộ 80 xuống mé sông. Hai bên thoả thuận miệng, mục đích là để trao đối vật tư xây dựng Nhà thờ, nhưng gia đình ông N không thực hiện, nên Nhà thờ không ra Ủy ban nhân dân xã để xác nhận giấy giao đất cho ông N. Năm 2009, ông N xây dựng nhà kiên cô và xây thêm phần nhà mua bán điện thoại, Nhà thờ không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Nhà thờ chỉ đồng ý cho ông N sử dụng phần đất chiều ngang 4m, phần đất chiều ngang 1,2m phải thỏa thuận giá với Nhà thờ, diện tích còn lại chiều ngang 4,4m dài từ Quốc lộ 80 đên sông P phải trả lại cho Nhà thờ. Nhà thờ thông nhất theo Quyết định số 197/QĐÐ- UBNĐ-NĐ ngày 14/5/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và đề nghị Tòa án bác yêu cầu của ông N. Tại Bản án hành chính sơ thâm số 02/2014/HC-ST ngày 27/6/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Đông Tháp đã quyêt định: Bác yêu cầu của ông Thái Văn N về việc yêu câu hủy Quyết định số 197/0Đ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tính Ð. Tòa án cấp sơ thâm còn quyết định về án phí. Ngày 10/7/2014, ông N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thâm. Tại Quyết định kháng nghị số 89/QĐÐKNPT-P5 ngày 11/7/2014, Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Đông Tháp kháng nghị Bản án hành chính sơ thâm sô 02/2014/HC-ST ngày 27/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đông Tháp và đê nghị Tòa án câp phúc thâm xử theo hướng sửa bản án sơ thâm, hủy một phân Quyêt định sô I197/QĐÐ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð. Tại phiên tòa phúc thấm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phô Hô Chí Minh rút toàn bộ quyêt định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Đông Tháp. Tại Bản án hành chính phúc thấm số 65/2015/HC-PT ngày 09/9/2015, Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phô Hồ Chí Minh đã quyết định: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đổi với Quyết định kháng nghị số 89⁄QĐÐKNPT: -PS ngày 11/7/2014 của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Đông Tháp. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thái B (đại điện theo ủy quyên của người khởi kiện). Giữ y án sơ thám số 02/2014/HC-ST ngày 27/6/2014 của Tòa án nhân dân tính Đồng Tháp. Ấp dụng Điêu 31 Luật Đất đai năm 1993 và Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ quy định về thủ tục chuyên đổi, chuyên nhượng, 4 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 399 cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyên sử dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyên sử dụng đát, tuyên xử: Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của ông Thái Văn N về việc yêu cầu hủúy Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tính Ð. Tòa án cấp phúc thấm quyết định về án phí. - Ngày 17/11/2015, ông N có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thâm đôi với Bản án hành chính phúc thâm sô 65/2015/HC-PT ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phô Hồ Chí Minh. Các ngày 01/02/2018, 09/5/2018 và 09/7/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Ð có Văn bản sô 32/UBND-NC, 232/UBND-NC và 349/UBND-NC đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thâm đối với Bản án hành chính phúc thầm số 65/2015/HC-PT ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Quyết định kháng nghị số 25/2018/KN-HC ngày 09/11/2018, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án hành chính phúc thâm số 65/2015/HC- PT ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hỗ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thâm và đề nghị Hội đồng Thắm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm theo hướng hủy Bản án hành chính phúc thâm số 65/2015/HC-PT ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hành chính sơ thâm số 02/2014/HC-ST ngày 27/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giải quyết sơ thâm lại theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đôc thâm, đại diện Viện kiêm sát nhân dân tôi cao đề nghị Hội đông Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao châp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. NHẠN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: [2] Phần đất gia đình ông Thái Văn N đang sử dụng được xác định là 202,2mˆ (trên đất có cửa hàng mua bán điện thoại của gia đình ông N) thuộc một phần thửa đất số 42 tờ bản đồ địa chính số 8a xã V, huyện P, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc do một số giáo dân hiến cho Nhà thờ. Năm 1976, Nhà thờ cho gia đình ông N sử dụng một phần đất có chiều ngang 4m, chiều dài từ Quốc lộ 80 đến mé sông để cất nhà ở và trông coi Nhà thờ. Ngày 18/01/2003, Linh mục Nguyễn Quang D cùng Ban Quới chức Họ đạo Nhà thờ lập “7ở giao đất” cho ông N sử dụng phần đất chiều ngang 10m, chiều đài từ Quốc lộ 80 đến sông P 30m, diện tích 300m”. [3l Năm 2009, ông N sửa chữa nhà chính kiên cố và cất thêm cửa hàng mua bán điện thoại di động, Nhà thờ không đông ý nên xảy ra tranh châp. Ong N cho răng ông đã được Linh mục quản nhiệm Nguyên Quang D cùng đại diện 5 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 400 Ban Quới chức họ đạo Nhà thờ V cho đất theo “7ở giao đất” lập ngày 18/01/2003. Đại diện Nhà thờ V thừa nhận có Tờ giao đất như ông N trình bày, nhưng cho răng ông NÑ không thực hiện việc trao đối vật tư đề xây dựng Nhà thờ mới nên Nhà thờ không ra Ủy ban nhân dân xã xác nhận giầy giao đất cho ô ông N. Do vậy, tranh chấp giữa hai bên có liên quan đến hợp đồng tặng cho quyên sử dụng đất giữa Nhà thờ V với ông N, nên vụ án thuộc thẩm quyên giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð ban hành Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nhà thờ V với ông Thái Văn N là không đúng thâm quyên. [4] Về nội dung: [5] Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của ông N: Phần đất của Nhà thờ V trước đây có nguôn gộc là do một sô giáo dân dâng hiến. Năm 1976, Nhà thờ V đã cho ông NÑ một phần đất ngoài phần đã xây dựng Nhà thờ, ông N đã làm nhà trên một phần đất được Nhà thờ giao (theo hiện trạng là 134 ,7m?), phần đất còn lại (theo hiện trạng là 102,2m?) ông N trồng xoài và chuối, việc này cũng được Ủy ban nhân dân tỉnh Ð và Nhà thờ xác nhận. [6] Như vậy, gia đình ông N đã sử dụng đất được Nhà thờ giao cho liên tục từ năm 1976 đến năm 2009 (quá trình sử dụng đất có đóng thuế với nhả nước). Tuy nhiên, các biên lai nộp thuế không xác định diện tích, trong quá trình sử dụng đất, ông N không kê khai đăng ký quyền sử dụng. [7] Năm 1999, do Nhà thờ V chuyên đi nơi khác, phần đất xây dựng trụ sở Nhà thờ, Nhà thờ đã giao trả lại cho chủ cũ là ông Nguyễn Phước T và giao một phần đất cho vợ chồng bá Huỳnh Thị Mai H và ông Đặng Văn K để trao đổi vật tư xây dựng Nhà thờ, giữa các gia đình này không có tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. [8] Ngày 18/01/2003, Linh mục quản nhiệm cùng đại diện Ban Quới chức họ đạo Nhà thờ V đã lập “7ở giao đất” cho ô ông N, có nội dung: “Nay làm giấy này để làm bằng chứng nhằm giao phân đất nên cũ của Nhà thờ V được tọa lạc tại ấp B, xã V. Được tính từ lộ 80 đến mé sông (kênh P). Với chiêu dài: 30 mớt, rộng: 10 mét. Diện tích tổng cộng là: 300 mét vuông. Lý do: Phần đất này là của Nhà thờ. Gia đình của ông Thái Văn N và bà Huỳnh Thị Mai H đã được Nhà thở cho pháp ở và bồi bổ, gây dựng đến nay. Nay Nhà thờ đã di dời phân đất này không sử dụng xin giao cho ông, bà N toàn quyên kê khai và sử dụng ”. [9] Nội dung giấy giao đất nêu trên không phải là hợp đồng chuyền quyền sử dụng đất, thực chất là Nhà thờ V xác nhận việc giao đất cho ông N có quyên sử dụng (như một hợp đồng tặng cho đất) để ô ông N có cơ sở đăng ký quyên sử dụng đất như hộ ông T và ông K. Trên thực tế, khi Nhà thờ giao đất cho ông NÑ thì ông N vẫn đang sử dụng đất này, Nhà thờ đã không sử dụng từ năm 1999. Từ khi có văn bản giao đất, Nhà thờ không có ý kiến gì về việc giao đất này; đồng thời, tại phiên tòa sơ thâm, đại điện Nhà thờ cũng xác nhận: “Ki linh mục B về 6 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 401 bàn giao tài sản, có xác nhận nhưng không có biên nhận tiếp nhận tài sản đất đại là bao nhiêu ”. [10] Như vậy, phần diện tích đất tranh chấp ông N đã sử dụng liên tục từ năm 1976 cho đên nay, Nhà thờ không trực tiêp sử dụng và gia đình ông NÑ có nhu câu sử dụng. [11] Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð ban hành Quyết định SỐ 127QĐ -UBND-NĐ ngày 14/5/2012 buộc gia đình ông N di dời vật kiến trúc, cây trồng (nếu có) đề giao trả lại 102,2m? đất cho Nhà thờ sử dụng là không đúng. [12] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thâm chỉ căn cứ trên cơ sở diện tích đất ông N đã xây dựng nhà ở và lời khai của đại diện Nhà thờ để cho rằng ông N được quyền sử dụng 134,7m? là không đúng với thực tế khách quan vụ án; đồng thời cho rằng văn bản giao đất của Nhà thờ không được cơ quan có thâm quyền xác nhận nên không có giá trị pháp lý để bác yêu cầu khởi kiện của ông N là không có căn cứ. [13] Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð ban hành Quyết định số 197/QĐ- UBND-NĐ ngày 04/5/2012 giải quyêt tranh châp đât đai không đúng thâm quyên, đường lôi giải quyêt vụ án cũng không đúng pháp luật. Bởi các lẽ trên; QUYÉT ĐỊNH: __ Căn cứ vào khoản 1 Điều 271, khoản 3 Điều 272, khoản 2 Điều 274 Luật Tô tụng hành chính; 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thấm số 25/2018/KN-HC ngày 09/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thâm số 65/2015/HC-PT ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; 2. Hủy Bản án hành chính phúc thâm số 65/2015/HC-PT ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phô Hồ Chí Minh; 3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thâm lại theo đúng quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ “13].... Ông N cho rằng ông đã được Linh mục quản nhiệm Nguyễn Quang D cùng đại diện Ban Quới chức họ đạo Nhà thở V cho đất theo “Tờ giao đất” lập ngày 18/01/2003. Đại diện Nhà thờ V thừa nhận có “Tờ giao đất” như ông N trình bày, nhưng cho rằng ông N không thực hiện việc trao đổi vật tư để xây dựng Nhà thờ mới nên Nhà thờ không ra Ủy ban nhân dân xã xác nhận giây giao đất cho ông N. Do vậy, tranh chấp giữa hai bên có liên quan đến hợp đông tặng cho quyên sử dụng đất giữa Nhà thờ V với ông N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điêu 25 Bộ luật Tố tụng LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 402 dân sự 2004, khoản 3 Điêu 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ð ban hành Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/5/2012 giải quyết tranh chấp quyên sử dụng đất giữa Nhà thờ V với ông Thái Văn N là không đúng thẩm quyên. ” C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 403 LUẬT SƯ FDVN TỔNG LƯỢC ÁN LỆ FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH ÁN LỆ SỐ 50/2021⁄AL VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN ĐỜI LẠI TÀI SẲN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC GIAO TÀI SẲN THED BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CÚ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT NỘI DUNG ÁN LỆ 4] Theo quy định của pháp luật thì quyền sử dụng đất của ông N đối với đất tranh chấp đã được xác định tại Bản án phúc thẩm số 43 ngày 13/5/1977 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên. Tòa án không được giải quyết lại quan hệ ai là chủ sử dụng đất hợp pháp, nhưng kiện đòi lại tài sản lại là quan hệ pháp luật khác. Nếu còn thời hiệu thi hành án thì ông N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thực hiện giao đất theo Bản án số 43 ngày 13/5/1977 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên. Tuy nhiên, nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì ông N có quyền khởi kiện đòi lại tài sản bằng vụ án dân sự mới. Trong trường hợp này, nếu không có căn cứ xác định ông N đã từ bỏ quyền tài sản thì phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.” mồ) v hnn Bản án, quyết định có hiệu lực pháp | Trường hợp này, Tòa án phải xác định luật của Tòa án giải quyết việc phân người đã được giao tài sản theo bản án, chia tài sản nhưng bản án, quyết định | quyết định đã có hiệu lực pháp luật của này chưa được thi hành do người được | Tòa án có quyền khởi kiện đòi lại tài thi hành án không yêu cầu thi hành án | sản. và chưa nhận tài sản trên thực tế. Khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, người được Tòa án giao tài sản mới có tranh chấp đòi lại tài sản được giao theo bản (ŒC +† án, quyết định nêu trên. . ì w Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.