Án lệ

Án lệ số 40/2021/AL về công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế

Số hiệu: 40/2021/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2021
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

FDVN P|SÓ 40/2021/AL" \ ,công LAI, việc chuyền đối quyền sử dụng đất trên thực tế Tài,hiệ,ng §»„Vkh› Tòa án nhân dân tôi cao thông qua ngày 23 lũ _ năm 2021 và được công bô theo Quyết định số 42/QĐ-CA ngày 12 tháng 3 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. Nguồn án lệ: __ Quyết định giám đốc thấm số 37/2019/DS-GĐT ngày 28/6/2019 của Ủy ban Thâm phán Toả án nhân dân câp cao tại Hà Nội về vụ án dân sự “Tranh châp thừa kê tài sản” tại tỉnh Thanh Hóa giữa nguyên đơn là ông Lê Văn CI, Lê Văn C2, bà Lê Thị M với bị đơn là ông Lê Văn DI, bà Nguyên Thị T2; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là Uy ban nhân dân thị xã B và bà Lại Thị H. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 8, 9 phần “Nhận định của Toà án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huống án lệ: Các bên chuyền đổi quyền sử dụng đất trên thực tế, không có thỏa thuận bằng văn bản; các bên đã sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp, đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyền đổi. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải công nhận việc chuyên đổi quyên sử dụng đất trên thực tế; các bên có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã chuyền đôi. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: - Khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 1993 (tương ứng với khoản 1 Điều 106 Luật Đât đai năm 2003; khoản I Điêu 167 Luật Đât đai năm 2013); __- Khoản 2 Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với khoản 2 Điêu 221 Bộ luật Dân sự năm 2015). Từ khoá của án lệ: “Chuyên đôi quyền Sử dụng đất trên thực tế”; “Sử dụng đất ôn định, lâu dài”; “Câp giây chứng nhận quyên sử dụng đât”; “Công nhận việc chuyên đôi quyên sử dụng đât trên thực tê”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2014 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lê Văn CI, ông Lê Văn C2 và bà Lê Thị M trình bày: Khi cụ Lê Văn U kết hôn với cụ Nguyễn Thị K, cụ U đã có 03 con riêng (với người vợ đã chêt) là ông Lê Quang TÌI, ông Lê Văn DI và ông Lê Quang D2. Cụ U và cụ K có 03 con chung là ông Lê Văn C1, Lê Văn C2 và bả Lê Thị M. ! Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất. | LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 322 Năm 1963, cụ U và cụ K rời xã Q, huyện H đi khai hoang vùng kinh tế mới tại làng L (nay thuộc thôn 5, xã T, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa) có mang theo 04 con là ông D2, ông C1, ông C2 và bà M. Khi đi hai cụ dỡ căn nhà bếp mang theo và để lại ngôi nhà 05 gian tại xã Q cho ông T1 và ông DI sở hữu. Hai cụ khai hoang tạo lập được thửa đất số 986 tại thôn 5, xã T và xây dựng 05 gian nhà để sinh sông. Ông D2 đi bộ đội hy sinh năm 1972 chưa vợ con. Ông C1 và ông C2 nhập ngũ. Năm 1989, ông C1 về phục viên và năm 1992, ông C2 về phục viên. Ông T1 kết hôn với bà Lê Thị C3, ông DI kết hôn với bà Nguyễn Thị T2. Trong thời gian chung sông tại xã Q, bà C3 và bà T2 có mâu thuân nên năm 1983, bà T2 ra thị xã S xIn ở với cụ U, cụ K và bà M. Năm 1997, cụ U chết không có di chúc. Ngày 14/10/2003, cụ K nhận thấy anh em trong gia đình có sự mâu thuẫn về đất đai nên gọi ông C1, ông C2, bà M, ông TI và ông DI về họp gia đình với mục đích chia thừa kế đôi với thửa đất số 986 tại thôn 5, xã T. Cuộc họp đã được chính ông DI ghi biên bản với mục đích chia quyền sử dụng đất. Tại cuộc họp tất cả đều công nhận đất là của hai cụ tạo lập, để lại và đã xác định ranh giới, nhưng không thống nhất được cách chia, cụ thể cụ K, ông C1, ông C2 và bà M không đồng ý nhận 10m mặt đường theo ý kiến của ông DI. Năm 2006, cụ K chết không để lại đi chúc, anh em trong nhà có bản bạc chia thừa kế tài sản của bố mẹ để lại, nhưng không thống nhất được, nên ông C1, ông C2 và bà M đã nhờ chính quyền thôn hòa giải vào ngày 22/8/2008. Ngày 10/10/2010, ông DI thừa nhận ra ở tại khu đất đang tranh chấp từ năm 1984 đến nay. Ông C1, ông C2 và bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C364176 đứng tên hộ gia đình bà T2 tại thôn 5, xã T; để lại 116m? đất thửa số 986 làm nhà thờ hai cụ, phần còn lại chia thừa kế cho các ông bà. Đôi với các công trình trên đất và gần 20m mặt đường ông DI đã bán khi hai cụ còn sông, các nguyên đơn không yêu cầu đòi lại và không yêu cầu chia thừa kế. BỊ đơn là ông DI, bà T2 trình bày: Thửa đất các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế không phải là đất của bố mẹ để lại. Đất này vợ chồng ông DI, bà T2 đã dùng 2.112m? đất thửa số 288 tờ bản đồ 299 trong bản đồ địa chính xã T là đất ông bà được xã cấp năm 1982 để đôi cho cụ U và cụ K lây thửa số 986 (là thửa số 40 theo bản đồ năm 1997), đã là đất đôi thửa thì không còn là đất của hai cụ và hiện nay VỢ chồng ông đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. Đề nghị cấp có thắm quyền thu hồi thửa đất số 288, chủ sử dụng đất là hai cụ. Thửa đất này ông CI đã tự chuyển nhượng cho anh Trịnh Văn T3 là bất hợp pháp, vì không có sự bàn bạc của các thành viên trong gia đình trong đó có ông DI. Thửa đất số 288 hai cụ đã được cấp giầy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng vào năm 1994 mới là đất hai cụ đề lại để chia thừa kế. Các biên bản hòa giải nguyên đơn nộp kèm đơn khởi kiện là không khách quan, không đúng pháp luật, vì gia đình ông bà đã được câp giây chứng nhận quyên sử dụng đât từ năm 1994 đên nay đã hơn 20 năm. Trước khi gia đình ông bà 2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 323 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ai có tranh chấp. Tại Bản án dân sự sơ thâm số 04/2016/DSST ngày 27/5/2016, Tòa án nhân dân thị xã Bim Sơn đã quyết định: Hủy một phần Quyết định số 7IQĐ/UBBS ngày 23/9/1994 của Ủy ban nhân dân thị xã B về phần giao ruộng đất ồn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T2. Ủy ban nhân dân thị xã B có nghĩa vụ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C36476 mang tên hộ bà Nguyễn Thị T2 để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Chia cho ông Lê Văn Cl, ông Lê Văn C2 và bà Lê Thị M được hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị K gồm: 538m? đất tại thôn 5, xã T, thị xã B. Cụ thể mỗi người được chia quyền sử dụng 179,33m” đất có trị giá 137.708.000 đồng. Tạm giao phần di sản của cụ Lê Văn U gồm 1⁄2 thửa đất số 986 có diện tích 538m” cho ông DI tiếp tục quản lý sử dụng cho đến khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyền. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thấm còn có quyết định khác, án phí và quyền kháng cáo. Ngày 08/6/2016, ông DI và bà T2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thâm. Tại Bản án dân sự phúc thấm số 85/2016/DSPT ngày 16/9/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn DI và bà Nguyễn Thị T2. Giữ nguyên bản án sơ thâm số 04/2016/DSST ngày 27/5/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Bim Sơn. Ngày 30/12/2016, Công ty luật trách nhiệm hữu hạn N (là người bảo vệ quyền lợi cho ông DI) và ông DI, bà T2 có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thâm theo thủ tục giám đốc thâm. Tại Quyết định kháng nghị số 06/2019/KN-DS ngày 14/02/2019, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thâm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thầm huỷ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thâm số 04/2016/DSST ngày 27/5/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bim Sơn, tỉnh Thanh Hóa; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thâm lại theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đê nghị Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội châp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội. NHẠN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Cụ Lê Văn U và cụ Nguyễn Thị K có 03 con chung là ông Lê Văn CI, Lê Văn C2 và bà Lê Thị M. Cụ U còn có 03 con riêng (với vợ đã chêt) là ông Lê Quang T1, ông Lê Văn DI và ông Lê Quang D2 (đã hy sinh năm 1972 khi chưa 3 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 324 có vợ con). Năm 1997, cụ U chết và năm 2006, cụ K chết đều không để lại di chúc. Ngày 18/02/2014, ông Cl, ông C2 và bà M khởi kiện yêu câu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C364176 ngày 23/9/1994 đứng tên hộ bà T2 tại thôn 5, xã T, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; chia thừa kế thửa đất số 986, tờ bản đồ số 1, bản đồ địa chính xã T, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa do ông DI và bà T2 đang quản lý sử dụng. [2] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất khai nguồn gốc đất đang tranh chấp là do cụ U và cụ K khai phá được khi đi khai hoang. Ông DI và bà T2 khai năm 1982, vợ chồng từ huyện H ra thị xã B sống cùng với cụ U, cụ K và bà M ở thửa đất trên; năm 1984, vợ chồng ông được Ủy ban nhân dân xã T cấp cho một thửa đất tại khu xăng dầu (tại Chỏm Vang) và vợ chồng ông đã đôi đất được cấp cho cụ U, cụ K để lấy thửa đất số 986 (theo bản đồ địa chính năm 1997 là thửa đất số 40) và vợ chồng ông đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, nên đất đang tranh chấp không phải là đi sản của cụ U và cụ K để lại nữa, mà là tài sản riêng của ông DI, bà T2. Bà M và ông Cl thống nhất khai năm 1984 (khi đó ông C1 và ông C2 vẫn đang phục vụ trong quân đội, vợ ông CI dạy học ở địa phương khác nên không thê đứng tên xin đất), theo đề nghị của cụ U, bà M đứng tên ông DI làm đơn xin cầp đất nhằm mục đích cho ông C1 và được Ủy ban nhân dân xã T cấp cho một thửa đất tại Chỏm Vang, nhưng vì ông DI, bà T2 không chịu ra đất mới được cấp ở, để tránh mâu thuẫn trong gia đình, ông CI đã làm nhà tại đất mới được cấp rồi đưa cụ U, cụ K và bàM ra đó ở; do đó, mặc dù đất mới được cấp đứng tên hộ cụ U nhưng là của ông C1. [3] Tại Công văn số 910/UBND-TNMT ngày 28/7/2014 của Uỷ ban nhân dân thị xã Bỉm Sơn có nội dung: [4] Theo bản đồ 299 duyệt công nhận năm 1985, vị trí đất đang tranh chấp thuộc thửa số 986 diện tích 1.6l6m” đất “T” không ghi chủ sử dụng đất; theo bản đồ đo vẽ công nhận tháng 12/1997, đất đang tranh chấp thuộc thửa số 40, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.263m”, số mục kê ghi đất ở 200m” và đất vườn 1.063m”? và chủ sử dụng đất là ông DĨ; theo bản đồ địa chính xã T đo vẽ duyệt công nhận tháng 12/2011, vị trí đất đang tranh chấp thuộc thửa số 262, tờ bản đỗ số 56 diện tích nguyên thửa 1.571m”, mục kê ghi đất ở 120m”, đất trồng cây lâu năm khác 1.451,4m” và chủ sử dụng đất đứng tên ông DI. [5] Căn cứ quyết định số 201QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Quyết định số 117/NN/UBTH ngày 21/01/1993 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quy định giao đất ruộng đất ôn định lâu dài cho hộ nông dân; Tờ trình số 73/TT/UB ngày 20/8/1994 của Ủy ban nhân dân xã T và phương án kèm theo việc phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân thị xã B đã ban hành Quyết định số 71/QĐÐ/UBBS ngày 23/9/1994 giao ruộng đất ổn định lâu đài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 716 hộ nông dân thuộc hợp tác xã X, xã T, trong đó có hộ bà T2; hộ bà T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất ngày 23/9/1994, tông diện tích đất được sử dụng 3. 409mý, bao gồm 200m đất thổ cư, 78ón7 đất thổ canh thửa số 98óa, còn lại là đất sản xuất nông nghiệp. LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 325 [6] Theo Tờ trình số 73/TT/UB ngày 20/8/1994 của Ủy ban nhân dân xã T cho thấy: Ủy ban nhân dân xã T trình Chủ tịch Ủy ban nhân thị xã B phê duyệt về việc giao đất ôn định lâu dài và cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất cho 716 hộ nông dân trên địa bàn xã đã được tô chức công khai hồ sơ và có đơn đăng ký sử dụng đất. [7] Tại Quyết định số 71/QĐ/UBBS ngày 23/9/1994, Ủy ban nhân dân thị xã B đã quyết định giao đất ôn định lâu dài cho 716 hộ nông dân thuộc hợp tác xã X, xã T. Theo quyết định trên, hộ bả T2 được giao tổng cộng 3.409m? đất, trong đó có 200m? đất thổ cư, 876m” đất thô canh đều thuộc thửa số 986a, còn lại là đất lúa ở các thửa khác nhau và hộ bà T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng ngày; hộ cụ U được giao tổng cộng 1.776m? đất, trong đó có 200mˆ đất thô cư, 55óm? đất thô canh đều thuộc thửa số 325 (theo các đương sự khai chính là thửa SỐ 288), còn lại là đất lúa ở các thửa khác nhau. [SJ Như vậy, với các tải liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy VIỆC ØlaO đất cho các hộ nông dân của xã T là thực hiện theo chính sách của Nhà nước và được lập hồ sơ công khai. Khi Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân thị xã B thực hiện chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 716 hộ nông dân của xã T, trong đó có hộ cụ U và hộ bà T2, cụ U và cụ K đều còn sống nhưng không có đơn, không kê khai đối với thửa đất đang tranh chấp, hai cụ chỉ kê khai đối với thửa đất sô 325 (theo ông DI, bà T2 khai là thửa đất đôi cho hai cụ) và hai cụ đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất đối với thửa đât này, hộ bà T2 được câp giầy chứng nhận quyên sử dụng đất đôi với thửa số 986a (là thửa 986 đang tranh chấp). Mặt khác, sau khi hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đôi với thửa đất đang tranh chấp không có ai khiếu nại; chỉ đến năm 2008, khi cụ U, cụ K đã chết mới xảy ra tranh chấp giữa các con của hai cụ. Do đó, có căn cứ xác định cụ U và cụ K đã đôi đất cho bà T2, ông DI. [9] Tòa án cấp sơ thầm cho rằng theo bản đồ 299 năm 1985, cụ K, cụ U là người sử dụng đât đang tranh châp, nên đât đang tranh châp là di sản của cụ U, cụ K và đã chia thừa kê đât của cụ K là không đúng. [10] Sau khi xét xử sơ thâm, ông DI và bà T2 đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thâm. Tòa án cấp phúc thâm xác định thửa đất số 325 đứng tên hộ cụ U là tài sản riêng của vợ chồng ông CI, còn thửa đất số 986 đứng tên hộ bà T2 mới là di sản của cụ U, cụ K để lại nên đã không chấp nhận kháng cáo của ông DI, bà T2 và giữ nguyên các quyết định của Tòa án cấp sơ thâm là sai lầm nghiêm trọng gây thiệt hại đến quyên và lợi ích hợp pháp của ông DI, bà T2. [11] Về tố tụng: Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thắm và cấp phúc thâm không đưa ô ông TI và hai con của ông DI, bà T2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót. Vì các lẽ trên, QUYÉT ĐỊNH: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 337, Điều 342, khoản 3 Điều 343, Điều 345 5 LUẬT SƯ FDVN : 326 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm Bộ luật Tổ tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. 1. Hủy Bản án dân sự phúc thâm số 85/2016/DSPT ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và hủy Bản án dân sự sơ thâm số 04/2016/DSST ngày 27/5/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bim Sơn, tỉnh Thanh Hóa đối với vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn là ông Lê Văn C1, ông Lê Văn C2 và bà Lê Thị M với bị đơn là ông Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị T2 và những người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan khác. 2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Bim Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thâm lại theo quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ “18] Như vậy, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc giao đất cho các hộ nông dân của xã T là thực hiện theo chính sách của Nhà nước và được lập hô sơ công khai. Khi Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân thị xã B thực hiện chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho 716 hộ nông dân của xã T, trong đó có hộ cụ U và hộ bà T2, cụ U và cụ K đểu còn sống nhưng không có đơn, không kê khai đối với thửa đất đang tranh chấp, hai cụ chỉ kê khai đối với thửa đất số 325 (theo ông DI, bà T2 khai là thửa đất đổi cho hai cụ) và hai cụ đã được cấp giây chứng nhận quyên sử dụng đất đối với thứa đất này, hộ bà T2 được cáp giây chứng nhận quyên sử dụng đất đối với thửa số 966óa (là thửa 986 đang tranh chấp). Mặt khác, sau khi hộ bà 12 được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp không có ai khiếu nại; chỉ đến năm 2008, khi cụ U, cụ K đã chết mới xảy ra tranh chấp giữa các con của hai cụ. Do đó, có căn cứ xác định cụ U và cụ K đã đổi đất cho bà T2, ông DI. /9J Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng theo bản đồ 299 năm 1985, cụ K, cụ U là người sử dụng đái đang tranh cháp, nên đât đang tranh cháp là đi sản của cụ Ù, cụ K và đã chia thừa kê đát của cụ K là không đúng. ” C2 LUẬT SƯ EDVN 327 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL VỀ CHẤM DỨT HỒN NHÂN THỰC TẾ NỘI DUNG ÁN LỆ “[3] Xét bà Tô Thị T2 chung sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thầm xử là đúng. [4] Xét sau khi bà T2 không còn sống chung với ông T1 thì năm 1985 ông T1 sống chung với bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thầm công nhận là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ”. TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ ~ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ Nam và nữ chung sống với nhau như vợ Trưởng hợp này, phải xác định hôn chồng, không đăng ký kết hôn nhưng sau nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt. đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống à với nhau như vợ chồng với người khác. 1¬: & Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ m: ^ 7 hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực ve XỔ ® ~ tê. ` Mì Email: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.