Án lệ

Án lệ số 39/2020/AL về xác định giao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra

Số hiệu: 39/2020/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2020
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

FDVN LAW LIRM .^ ÁN LỆ S$Ó 39/2020/AL Về áù iblQ#hd Mthlãâu{ Sự đi điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra Được Hội đồng Thâm phản Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 13 tháng 8 năm 2020 và được công bồ theo Quyết định số 276/QĐ-CA ngày 02 tháng 10 năm 2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. Nguôn án lệ: Quyết định giám đốc thâm số 29/2019/DS-GĐT ngày 12-11-2019 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng ở nhờ nhà ở” tại Thành phố Hỗ Chí Minh giữa nguyên đơn là cụ Trần Vân C với bị đơn là ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị CI và Công ty TNHH một thành viên Du lịch T; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 03 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn I phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huống án lệ: Người thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (bên bán) cam kết sau khi mua hóa giá nhà của nhà nước sẽ chuyên nhượng quyên sở hữu nhà cho bên mua. Bên bán đã nhận tiên và giao nhà cho bên mua nhưng sau đó Nhà nước không hóa giá và không công nhận quyên sở hữu nhà. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà là giao dịch dân sự có điều kiện nhưng vô hiệu do điều kiện của hợp đồng không thê xảy ra. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: ¬ Điều 23 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 (tương ứng với khoản 6 Điêu 406 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 6 Điêu 402 Bộ luật Dân sự năm 2015); - Điều 21 Luật Nhà ở năm 2005 (tương ứng với Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014); - Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015). Từ khoá của án lệ: “Giao dịch dân sự có điều kiện”; “Điều kiện không xảy ra”; “Giao dịch vô hiệu” NỘI DUNG VỤ ÁN: Tại Đơn khởi kiện ngày 27-6-2003 của cụ Trần Vân C và Đơn yêu cẩu kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ngày 26-4-2011 của bà Lê Thị Minh C2, ông Lê Minh S, ông Lê Minh ĐÐ, ông Lê Minh T2 và trong quả trình giải quyết vụ án, nguyên đơn do bà Lê Thị Minh C2 đại diện trình bày: ! Án lệ này do Hội đồng xét xử giám đốc thâm gồm 05 Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất. 1 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 313 Năm 1982, gia đình cụ Nguyễn Viết L (chết năm 1985) và cụ Trần Vân C (chết năm 2011) cùng 03 người con là ông Lê Minh S, ông Lê Minh Ð, ông Lê Minh T2 được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp cho sử dụng tầng trệt phía trước căn nhà số 182 đường A, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 5-1989, cụ C cho Chi nhánh Công ty Du lịch T thuê một phần nhà có diện tích 50,85m, vị trí góc 2 mặt tiền đường A — Ð để mở cửa hàng dịch vụ tổng hợp. Bà CI khi đó lây tư cách là cửa hàng trưởng, cùng chồng là ông Nguyễn Công H trực tiếp kinh doanh và đại diện cho Chi nhánh Công ty Du lịch T trả tiền thuê nhà tháng 6-1989 là 2,3 chỉ vàng 24K và trả tiếp tiền thuê từ tháng 7-1989 đến tháng 12-1992 là 75 chỉ vàng 24K, đợt một trả vào ngày 10-7-1989 là 35 chỉ vàng 24K, đợt hai trả 40 chỉ vàng vào ngày 01-9-1989. Tổng cộng cụ C nhận 7,5 lượng vàng 24K. Tháng 12-1989, Chi nhánh Công ty Du lịch T kinh doanh không hiệu quả nên giao cho bà Cl tiếp tục kinh doanh và thực hiện việc trả tiền thuê cho đến hết tháng 02-2002. Kế từ tháng 3-2002 đến nay bà C1 và ông H vẫn ở tại phần diện tích này và không trả tiền thuê nhà, một phần nhà hiện do bà TI sử dụng, một phần do bà K sử dụng. Quá trình bà C1, ông H sử dụng nhà có xây dựng, sửa chữa nên phần diện tích đang tranh chấp có giá trị tính theo biên bản định giá ngày 22-01-2014 là 1.427.421.900 đồng, nay đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật. Đối với Hợp đồng liên kết số 05 ký ngày 20-5-1989 ký với Chi nhánh Công ty Du lịch T, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết và rút yêu cầu buộc Công ty TNHH một thành viên Du lịch T trả 1,48 lượng vàng 24K tiền thuê nhà. Do hai bên không có việc mua bán nhà và không còn quan hệ thuê nhà nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ bản cam kết do cụ Trần Vân C và bà Trần Thị C1 lập và ký ngày 10-7-1989; buộc bà C1, ông H trả ngay phần nhà đang ở nhờ. Đồng ý trả cho bà C1, ông H chỉ phí sửa chữa lại nhà là 64.105.000 đồng. Bị đơn là ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị Cl trình bày: Năm 1989, ông H, bà CI có sang nhượng một phần diện tích khoảng hơn 40m” nằm trong nhà 182 đường A, quận D của cụ Trần Vân C với giá 7,5 lượng vàng 24K, hai bên có viết giấy tay bán nhà vào ngày 10-7- 1989, ông H, bà CI đã giao đủ số vàng này cho cụ C, sau đó đưa thêm 05 chỉ, tổng cộng giá bán là 08 lượng vàng 24K. Phần diện tích sang nhượng có vị trí tại góc 2 mặt tiền đường A — Ð. Vào thời điểm đó, cụ C đang thuê căn nhà trên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên chưa được cấp chủ quyền nhà, do đó hai bên chỉ viết giấy tay, không ký được hợp đồng mua bán. Sau đó, ông H, bà C1 đã sang nhượng lại cho bà Trần Thị Kim T1 một phần nhà có diện tích khoảng l6mỷ, việc sang nhượng với bà T1 chỉ thỏa thuận bằng miệng. Khoảng năm 2005, ông H, bà C1 có hợp tác kinh doanh với bà Lương Thị K tại phần diện tích trên. Theo bản cảm kết giữa hai bên tại giấy viết tay ngày 10-7-1989 thì khi nào Nhà nước cho cụ C mua hóa giá nhà thì ông H, bà CI phải trả tiền hóa giá phần diện tích đã sang nhượng và cụ C có trách nhiệm làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phần diện tích đã sang nhượng cho ông H, bà C1. Đồng thời, căn cứ Luật Đất đai 2 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 314 năm 2003 thì ông H, bà Cl đã sử dụng nhà và đất trên 25 năm nên phải được công nhận quyên sử dụng đât và nhà, nên yêu câu công nhận việc chuyên nhượng nhà theo Bản cam kêt ngày 10-7-1989 vì đây là giao dịch dân sự có điêu kiện. Những người kế thừa quyên và nghĩa vụ của cụ C yêu cầu đòi nhà cho ở nhờ là không có cơ sở vì theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà thì cụ C chỉ có quyền sở hữu. 167m? còn phần diện tích trên cụ C không có quyền sở hữu, nên không có quyền khởi kiện, ông H, bà C1 không chấp nhận. Do tranh chấp phát sinh năm 1989 đã hết thời hiệu, nên yêu cầu đình chỉ vụ án. Việc sang nhượng một phần diện tích cho bà T1 và việc hợp tác kinh doanh với bà K không yêu cầu giải quyết. Quá trình sử dụng ông H, bà C1 có sửa chữa lại nhà với chi phí sửa chữa tính theo bản chiết tính là 64.105. 000 đồng, trường hợp Tòa án không công nhận việc chuyên nhượng nhà thì yêu cầu phải trả lại số tiền đã sửa chữa này. Bị đơn là Công ty TNHH một thành viên Du lịch T do ông Nguyễn Văn T3 đại điện trình bảy: Công ty TNHH một thành viên Du lịch T là đơn vị chủ quản của Chi nhánh Công ty Du lịch T. Thời điểm năm 1989, Chi nhánh do ông Nguyễn S1 làm giám đốc, Chi nhánh đã giải thể từ năm 1990. Việc Chi nhánh ký kết hợp đồng liên kết với cụ Trần Vân C, trước đây ông S1 không có báo cáo với Công ty và khi giải thê cũng không có bàn giao công nợ nên Công ty không có căn cứ để giải quyết đối với yêu cầu đòi tiền thuê nhà của cụ C. Những người kế thừa quyên và nghĩa vụ của cụ C không có yêu cầu giải quyết đối với Hợp đồng liên kết số 05 ngày 20-5-1989 ký với Chi nhánh Công ty Du lịch T và đã rút yêu cầu đòi 1,48 lượng vàng 24K tiền thuê nhà nên Công ty TNHH một thành viên Du lịch T không có ý kiến nảo khác. Yêu cầu xét xử theo quy định của pháp luật, ông T3 xin được vắng mặt. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Kim TÌ trình bày: Bà TI có sang nhượng lại của bà C1 một phần nhà số 182 đường A, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích khoảng 16m” vào năm 1989, với giá 04 lượng vàng, việc sang nhượng không làm giấy tờ. Nay bà T1 yêu cầu phía cụ C phải có trách nhiệm làm thủ tục chuyên quyên sở hữu cho ông H, bà CI. Việc sang nhượng giữa bà TI với ông H, bà C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, theo bà T1 thì phần diện tích các bên đang tranh chấp là phần sử dụng chung của các hộ trong nhà I82 đường A, phường B, quận D, Thành phó Hồ Chí Minh, cụ C không có quyền sở hữu nên không có quyên khởi kiện. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lương Thị K trình bày: Ngày 01-4-2005, bà K có hợp tác kinh doanh với bà C1. Giấy phép kinh doanh do bà K đứng tên tại địa chỉ sô 182 đường A, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, khi hợp tác bà K không biết rõ về tình trạng pháp lý căn nhà. Nay cụ C và bà CI có tranh chấp bà không có ý kiến và không có yêu cầu nào. Về việc hợp tác với bà C1 hai bên tự giải quyết. LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 315 Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Quản lý kinh doanh nhà N do bà Phạm Thúy HĨ đại diện trình bảy: Công ty Quản lý kinh doanh nhà N tiến hành bán nhà số 182 đường A, phường B, quận D, Thành phô Hô Chí Minh vào năm 2001, trước khi bán có lập biên bản kiêm tra phân diện tích do từng hộ sử dụng. Theo nội dung biên bản thì phân diện tích nhà ở và đât ở các đương sự đang tranh châp năm trong lộ giới thuộc quyên sử dụng của chủ sở hữu (cụ C - đã chêt) cho đên khi Nhà nước thu hôi đê thực hiện dự án mở rộng lộ giới. Việc cụ C cho ở nhờ, cho thuê, chuyên nhượng là trái với quy định nên Công ty Quản lý nhà N không đông ý. Yêu câu xét xử theo quy định của pháp luật. Tại Bản án dân sự sơ thâm số 28/DS-ST ngày 27-7-2006, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phô Hô Chí Minh quyết định: - Hủy cam kết ngày 10-7-1989 giữa cụ C với ông H, bà C1. - Ông H bà CŨ, bà TL, bà K có trách nhiệm giao lại cho cụ C một phần tâng trệt nhà 182 đường A, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chỉ Minh với diện tích 50,85mi. - Cụ C trả ông H, bà Cï: 08 hượng vàng đã nhận + 27,49 lượng vàng thiệt hại + 64.105.000 đồng tiên sửa chữa. Tông cộng 35,49 lượng vàng và 64. 105.000 đồng. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn kháng cáo. Tại Bản án dân sự phúc thấm số 188/2007/DS-PT ngày 07-02-2007, Tòa án nhân dân Thành phô Hô Chí Minh quyêt định: Sửa một phần Bản án sơ thẩm: Công nhận Hợp đồng mua bản nhà giữa cụ Tì rân Vân C với ông Nguyễn Công H, bà Trán Thị CÌ theo giấy cam kết ngày 10-7-1969. Cụ C có trách nhiệm chuyển quyên sở hữu nhà cho ông H, bà C1. Ông H, bà Cl trả cụ C tiên hóa giá nhà 169.432.000 động. Tại Quyết định số. 138/QĐ-KNGĐT-VS ngày 13-11-2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thâm nêu trên. Tại Quyết định giám đốc thâm SỐ 01/2008/DS-GĐT ngày 25-01-2008, Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao quyết định: /##y Bản án dân sự sơ thẩm số 28/DS-ST ngày 27-7-2006 của Tòa án nhán dân Quận 3 và hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 188/2007/DS-PT ngày 07-02-2007 của Tòa án nhân dân Thành phô Hồ Chí Minh; giao hô sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 3 xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2014/DS-ST ngày 16-4-2014, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Chấp nhận một phần yêu câu của những người kế thừa quyên và nghĩa vụ của cụ Trần Vân C. C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 316 - Tuyên bồ bản cam kết về việc chuyển nhượng quyên sử dụng một phần căn nhà số 182 đường A, phường B, quận D, Thành phô Hồ Chí Minh ký ngày 10-7-1989 giữa cụ Trần Vân C và bà Trần Thị C1 là vô hiệu. - Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Trần Vân C là bà Lê Thị Minh C2, ông Lê Minh S, ông Lê Minh Đ, ông Lê Minh T2 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1 số vàng đã nhận là 08 lượng vàng 24k = 276.320.000 đồng. - Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Trần Vân C là bà Lê Thị Minh C2, ông Lê Minh ŠS, ông Lê Minh Đ, ông Lê Minh T2 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1 chỉ phí xây dựng, sửa chữa nhà là 64.105.000 đồng. - Buộc những người kế thừa quyển và nghĩa vụ của cụ Trần Vân C là bà Lê Thị Minh C2, ông Lê Minh S, ông Lê Minh ÐĐ, ông Lê Minh T2 có trách nhiệm bôi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1 số tiên là 5735.550.950 đồng. - Buộc ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1, bà Trần Thị Kim TL, bà Lương Thị K phải có trách nhiệm giao trả cho những người kê thừa quyên và nghĩa vụ của cụ Trán Vân C là bà Lê Thị Minh C2, ông Lê Minh S, Ông Lê Minh Ð), ông Lê Minh T2 phán diện tích nhà và đái trong căn nhà số 182 đường Ả, phường B, quận D, Thành phô Hồ Chí Minh gôm: Diện tích nhà và đất trong nhà chính có lâu, phù hợp quy hoạch là 8,11Im” + diện tích nhà và đất trong lộ giới là 42, 74m”. Tòa án cấp sơ thâm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 24-4-2014, ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1, bà Trần Thị Kim TI có đơn kháng cáo. Ngày 28-4-2014, bà Lê Thị Minh C2 có đơn kháng cáo. Tại Bản án dân sự phúc thấm số 1515/2014/DS-PT ngày 01-12-2014, Tòa án nhân dân Thành phô Hô Chí Minh quyêt định: Không chấp nhận yêu câu kháng cáo của bà Lê Thị Minh C2, bà Trân Thị C1, ông Nguyễn Công H và bà Trần Thị Kim TI, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thâm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử phúc thâm, bị đơn là ô ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1 có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thâm số 1515/2014/DS-PT ngày 01-12-2014 nêu trên. Tại Quyết định kháng nghị. số 38/KNGĐT-VC3-V2 ngày 21-3-2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án dân sự phúc thâm số 1515/2014/DS-PT ngày 01-12-2014 của Tòa án nhân dân Thành phô Hồ Chí Minh; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thầm hủy Bản án dân sự phúc 5 % LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 317 thâm nêu trên và Bản án dân sự sơ thâm số 12/2014/DS-ST ngày 16-4-2014 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hỗ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thâm xét xử sơ thấm lại. Tại Quyết định giám đốc thấm số 234/2016/DS-GĐT ngày 09-9-2016, Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phô Hô Chí Minh quyêt định: Không chấp nhận Kháng nghị số 38/KNGĐT-VC3-V2 ngày 2I-3-2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 1515/2014/DS-PT ngày 01-12-2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hô Chỉ Minh. Ngày 21-01-2017, ông Nguyễn Công H, bà Trân Thị C1, bà Trần Thị Kim TI có đơn đê nghị xem xét theo thủ tục giám đôc thâm đôi với Quyêt định giám đôc thâm sô 234/2016/DS-GĐT ngày 09-9-2016 nêu trên. Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thấm số 56/2019/KN-DS ngày 05-8-2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định giám đốc thâm số 234/2016/DS-GĐT ngày 09-9-2016 của Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm hủy Quyết định giám đốc thâm số 234/2016/DS-GĐT ngày 09-9-2016 của Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án dân sự phúc thâm số 1515/2014/DS-PT ngày 01-12-2014 của Tòa án nhân dân Thành phô Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thâm số 12/2014/DS-ST ngày 16-4-2014 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thâm lại theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đôc thâm, đại diện Viện kiêm sát nhân dân tôi cao nhât trí với quyêt định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Hồ sơ, chứng cứ vụ án thê hiện, ngày 10-7-1989, cụ Trần Vân C và bà Trần Thị C1 ký Bản cam kết và Giấy biên nhận với nội dung: Cụ C có nhận của bà CI 75 chỉ vàng, cho vợ chồng bà CI toàn quyền sử dụng phần diện tích 45m tại căn nhà sô 182 đường A, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; cụ C không bao giờ đòi lại nhà, cũng như vợ chồng bà C1 không đòi lại vàng; khi nào Nhà nước cho cụ C mua hóa giá nhà thì ông H, bà Cl phải trả tiền hóa giá phần diện tích đang sử dụng và cụ C có trách nhiệm làm thủ tục chuyên quyền sở hữu phần diện tích đã sang nhượng cho ông H, bà C1. Như vậy, có cơ sở xác định cụ C đã thỏa thuận bán một phần căn nhà số 182 đường A đang thuê của Nhà nước cho bà C1 với điều kiện khi cụ C được Nhà nước hóa giá, hay nói cách khác, giao dịch giữa cụ C và bà CI là giao dịch dân sự có điều kiện, khi nào cụ C được Nhà nước bán hóa giá nhà thì giao dịch phát sinh hiệu lực. Điều 23 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 quy định: “7rong trường hợp các bên thỏa thuận về một sự kiện là điều kiện thực hiện hoặc chấm dứt hợp động, thì khi sự kiện đó xảy ra, hợp. đông phải được thực hiện hoặc chấm dứt”. Điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng tuy không vi phạm điều cắm của pháp luật, không trái đạo đức 6 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 318 xã hội, nhưng trong phần nhà đất cụ C thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Cl có diện tích 42,74m” năm trong lộ giới, Nhà nước không hóa giá và không công nhận quyên sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của cụ C cho nên phân lớn điều kiện đó không xảy ra. Vì vậy, sự thỏa thuận giữa cụ C với bà CI không phát sinh hiệu lực, Tòa án cấp sơ thâm và phúc thâm tuyên vô hiệu là có căn cứ. [2] Theo quy định tại Điều 21 Luật Nhà ở năm 2005, điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014 và Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chủ sở hữu, chủ thê có quyền khác đối với tải sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tải sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Vì phân nhà đất có diện tích 42,74m? đang tranh chấp nằm trong lộ giới, Nhà nước không hóa giá, không công nhận quyên sở hữu nhà, quyên sử dụng đất cho cụ C thì cụ C và những người thừa kế của cụ C không có quyên kiện đòi phần diện tích nhà đất đó. Tòa án cấp sơ thâm và cấp phúc thâm buộc ông H, bà Cl, bà TI, bà K phải có trách nhiệm giao trả cho những người kế thừa quyên, nghĩa vụ tô tụng của cụ C phần diện tích nhà và đất thuộc lộ giới, Nhà nước không công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất là không có căn cứ. Quyết định giám đốc thâm của Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hỗ Chí Minh không nhận thấy sai sót của Tòa án cấp sơ thấm và Tòa án cấp phúc thâm, từ đó tuyên không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án phúc thâm là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì các lẽ trên, QUYÉT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343, khoản 2 Điều 345 Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2015; 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 56/2019/KN-DS ngày 05-8-2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. 2. Hủy Quyết định giám đốc thâm số 234/2016/DS-GĐT ngày 09-9-2016 của Ủy ban Thấm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án dân sự phúc thâm số 1515/2014/DS-PT ngày 01-12-2014 của Tòa án nhân dân Thành phó Hồ Chí Minh và hủy Bản án dân sự sơ thâm số 12/2014/DS-ST ngày 16-4-2014 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng ở nhờ nhà ở” giữa nguyên đơn là cụ Trần Vân C (chết ngày 02-4-2011); người kế thừa quyên và nghĩa vụ của cụ Trần Vân C là bà Lê Thị Minh C2, ông Lê Minh S, ông Lê Minh Ð, ông Lê Minh T2 với bị đơn là ông Nguyễn Công H, bà Trần Thị C1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. 3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hỗ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thâm đúng quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ: Ị lỊ...Như vậy, có cơ sở xác định cụ C đã thỏa thuận bản một phần căn nhà số ]82 đường A đang thuê của Nhà nước cho bà CÏ với điểu kiện khi cụ C LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 319 được Nhà nước hóa giả, hay nói cách khác, giao dịch giữa cụ C và bà CÏ là giao dịch dân sự có điễu kiện, khi nào cụ C được Nhà nước bán hóa giả nhà thì giao dịch phát sinh hiệu lực. Điễu 23 Pháp lệnh Hợp động dân sự năm 1991 quy định: “Trong trường hợp các bên thỏa thuận về một sự kiện là điểu kiện thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng, thì khi sự kiện đó xảy ra, hợp đồng phải được thực hiện hoặc chấm dứt”. Điễu kiện thỏa thuận trong hợp đông tuy không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nhưng trong phân nhà đất cụ C thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Cl có diện tích 42, 74m? năm trong lộ giới, Nhà nước không hóa giá và không công nhận quyên sở hữu nhà, quyên sử dụng đất của cụ C cho nên phần lớn điều kiện đó không xảy ra. Vì vậy, sự thỏa thuận giữa cụ C với bà CÏ không phái sinh hiệu lực, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên vô hiệu là có căn cứ. ” C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 320 LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 40/2020/AL VỀ CÔNG NHẬN VIỆC CHUYỂN ĐỔI _ QUYỂN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THỰC TẾ NỘI DUNG ÁN LỆ “[8] Như vậy, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc giao đất cho các hộ nông dân của xã T là thực hiện theo chính sách của Nhà nước và được lập hồ sơ công khai. Khi Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân thị xã B thực hiện chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 716 hộ nông dân của xã T, trong đó có hộ cụ U và hộ bà T2, cụ U và cụ K đều còn sống nhưng không có đơn, không kê khai đối với thửa đất đang tranh chấp, hai cụ chỉ kê khai đối với thửa đất số 325 (theo ông DI, bà T2 khai là thửa đất đổi cho hai cụ) và hai cụ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này, hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 98óa (là thửa 986 đang tranh chấp). Mặt khác, sau khi hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp không có ai khiếu nại; chỉ đến năm 2008, khi cụ U, cụ K đã chết mới xảy ra tranh chấp giữa các con của hai cụ. Do đó, có căn cứ xác định cụ U và cụ K đã đổi đất cho bà T2, ông DI. [9] Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng theo bản đồ 299 năm 1985, cụ K, cụ U là người sử dụng đất đang tranh chấp, nên đất đang tranh chấp là di sản của cụ U, cụ K và đã chia mà? v thừa kế đất của cụ K là không đúng.” À GIẢI PHÁP PHÁP LÝ Imi TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ Các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế, không có thỏa thuận bằng văn bản; các bên đã sử dụng đất ồn định, lâu dài, không có tranh chấp, đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển đổi. “=> Trường hợp này, phải công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế; các bên có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã chuyển đổi. =ávt4 Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.