L Lầu làsó ba/à0iV/ALÌVềÀÍs|n bị chiếm đoạt trong tội “Cướp tài sản” Tàn 3rtÔNpittlaiÔisa án Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 22 i1GT†E~Dð~TT†GT?T:TZU157—Y~qđiØcC CỚ 16 bố theo Quyết định số 293/QĐ-CA ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao. Nguồn án lệ: _ Quyết định giám đốc thấm số 20/2018/HS-GĐT ngày 15-10-2018 của Hội đông Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao về vụ án “Cướp tài sản” đôi với bị cáo: Lê Xuân Q, sinh năm 1993. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn I phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huống án lệ: Bị cáo có hành vi dùng vũ lực tấn công bị hại, làm bị hại lâm vào tình trạng không thê chông cự được nhăm mục đích không trả sô tiên mà bị cáo có nghĩa vụ phải thanh toán cho bị hại. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp tài sản”. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015). Từ khoá của án lệ: “Cướp tài sản”; “Tài sản bị chiếm đoạt”; “Số tiền bị cáo phải thanh toán”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Khoảng 22 giờ ngày 19-01-2015, Lê Xuân Q, Trần Xuân L, Nguyễn Văn L, Trương Sỹ T, Hà Thị Thu H và các đối tượng HI, Bin (không rõ lai lịch) đến hát tại phòng 203 của quán Karaoke M thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, do anh Nguyễn Thành H làm chủ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì mọi người về trước, Q và Nguyễn Văn L ở lại tính tiền. Anh Võ Minh 1 được anh Nguyễn Thành H giao quản lý tại quán, kiểm tra phòng 203 và viết phiếu thanh toán hết 408.000 đồng. Lê Xuân Q đưa 208.000 đồng và 01 điện thoại đi động cho anh Võ Minh T và nói hôm sau quay lại thanh toán số tiền 200.000 đồng còn thiếu và chuộc lại điện thoại, nhưng anh Võ Minh T không chấp nhận. Lúc này Trương SÿT điều khiến xe quay lại chở Q và Nguyễn Văn L, thì Q nói với chủ quán là để Q về lây tiền, còn Nguyễn Văn L và Trương Sỹ T ở lại. Q điều khiển xe đến gặp Trần Xuân L và HI, Q nói với Trần Xuân L mang điện thoại của Trần Xuân L đến quán Karaoke thể chấp cho số tiền còn thiếu, nhưng Trần Xuân L không đồng ý. Q nói với Trần Xuân L và HI quay lại l| LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 217 quán Karaoke M đuổi đánh nhân viên trong quán đề cho Nguyễn Văn L, Trương Sÿ T bỏ chạy và quyt 200.000 đông còn thiêu. Trân Xuân L và HI đông ý. Sau đó, Lê Xuân Q chở Trần Xuân L và HI đến bụi rậm gần Khu chung cư I thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và chỉ cho HI, Trần Xuân L vào lấy 02 - Cây mã tấu tự tạo dài khoảng 60 em do Q cất giữ trước đó. Trần Xuân L và HI mỗi người cầm 01 cây mã tấu rồi lên xe quay lại quán Karaoke M. Khoảng 00 giờ ngày 20-01-2015, Lê Xuân Q điều khiến xe đến trước quán Karaoke M rồi dừng lại và ngồi trên xe, còn HI và Trần Xuân L cầm theo mã tấu xông vào quán. Thây HI và Trần Xuân L xông vảo, Nguyễn Văn L và Trương Sỹ T bỏ chạy về nhà. Trần Xuân L và H1 cầm mã tấu rượt đuôi các nhân viên trong quán, anh Định Đức T, anh Võ Minh T chạy vào nhà vệ sinh, anh Nguyễn Thành H chạy lên tầng 2 đóng cửa lại, còn anh Phan Thanh T là bảo vệ của quán chạy ra ngoài đường trốn. Trần Xuân L đuổi theo đến quây tính tiền thì dừng lại và phát hiện 02 máy tính bảng hiệu Hanet màu đen để trong ngăn tủ kéo, Trần Xuân L lấy 02 máy tính bảng giấu trong người rồi đi ra, H1 cũng đi ra rồi lên xe do Lê Xuân Q điều khiến tâu thoát. Trên đường đi, H1 và Trần Xuân L vứt 02 cây mã tấu ven đường Nguyễn Sinh S (không thu hồi được vật chứng). Khi cả ba đến Khu chung cư F, Trần Xuân L đưa ra 02 máy tính bảng và nói lấy tại quán Karaoke M, thì Q đề nghị đem trả lại, nhưng Trần Xuân L nói “Giờ trả lại sợ Công an bắt”, nghe thế, Lê Xuân Q nói “Tôi không liên quan ` rồi về nhà ngủ. Sáng hôm sau Lê Xuân Q đem trả xe cho Trần Xuân L rồi bỏ trốn. Đối với 02 máy tính bảng, Trần Xuân L bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch được 1.100.000 đồng và tiêu xài hết. Hai máy tính này không thu hồi được. Tại Kết luận số 33/KL-HĐĐG ngày 28-5-2015 của Hội đồng định giá tài sản thì giá trị còn lại của 02 máy tính bảng hiệu Hanet 105, đã qua sử dụng là 12.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra, bà Phan Thị C (mẹ của Trần Xuân L) đã bồi thường cho anh Nguyên Minh T sô tiên 7.000.000 đông. Anh Nguyên Minh T đã nhận tiên và không yêu câu bôi thường thêm. Tại Bản án hình sự sơ thâm số 77/2015/HSST ngày 19-12-2015, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; các điểm g và n khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Lê Xuân Q 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thâm còn xử phạt Trần Xuân L 06 năm tủ về tội “Cướp tài sản”, quyêt định án phí và tuyên quyên kháng cáo theo luật định Ngày 21-12-2015, Lê Xuân Q kháng cáo với nội dung cho rằng không phạm tội “Cướp tài sản”. Trân Xuân L kháng cáo xin giảm hình phạt. Tại Bản án hình sự phúc thâm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản I Điều 249 Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2003, quyết định sửa Bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 314; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản Ì Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Xuân Q 03 (ba) năm tù về tội “Không tố giác tội phạm” 2 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 218 (Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thấm còn giảm hình phạt cho Trần Xuân L xuống còn 05 năm tủ vẻ tội “Cướp tài sản”). Tại Quyết định số 26/2017/KN-HS-VC2 ngày 11-4-2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị giám đốc thâm đối với Bản án hình sự phúc thâm nêu trên và đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy phần hình phạt đối với Lê Xuân Q của Bản án phúc thâm và Bản án sơ thâm để điều tra lại. Tại Quyết định sỐ 61/2017/QĐ-VC2 ngày 27-7-2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thay đôi Quyết định kháng nghị. số 26/2017/KN-HS-VC2 ngày 11-4-2017 theo hướng để nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy phân hình phạt và tội danh đối với Lê Xuân Q tại Bản án phúc thâm đề xét xử phúc thẩm lại. Tại Quyết định giám đốc thấm số 38/2017/HS-GĐT ngày 18-9-2017, Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định hủy Bản án hình sự phúc thâm về phần tội danh và hình phạt đối với Lê Xuân Q để xét xử phúc thâm lại. Tại Quyết định số 16/2018/KN-HS ngày 22-5-2018, Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao kháng nghị đối với Quyết định giám đốc thấm số 38/2017/HS- GĐT ngày 18-9-2017 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thâm hủy Quyết định giám đốc thâm nêu trên và sửa Bản án hình sự phúc thâm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về phần trách nhiệm hình sự của Lê Xuân Q. Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Quyết định kháng nghị giám đốc thâm của Chánh á án Tòa án nhân dân tối cao và đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề xét xử giám đốc thẩm lại. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Lời khai của Lê Xuân Q phù hợp với lời khai của Trần Xuân L, phù hợp các lời khai của anh Võ Minh T, anh Nguyễn Thành H (nhân viên và chủ quán Karaoke M) về các tình tiết của vụ án. Có cơ sở xác định sau khi bàn bạc thống nhất, khoảng 00 giờ ngày 20-01-2015, Lê Xuân Q cùng Trần Xuân L và HI mang theo 02 mã tấu đến quán Karaoke M. Q đứng ngoài, còn Trần Xuân L và HI cầm mã tấu rượt đuổi nhân viên của quán. để giải vây cho Nguyễn Văn L, Trương Sỹ T nhằm không trả 200.000 đồng tiền dịch vụ hát Karaoke còn nợ trước đó. Như vậy, các bị cáo có hành vi dùng vũ lực tấn công bị hại để giải thoát cho đồng bọn, nhằm mục đích không trả số tiền mà bị cáo có nghĩa vụ phải thanh toán cho bị hại là có đủ yếu tô cấu thành tội “Cướp tài sản”. [2] Lê Xuân Q không trực tiếp cầm mã tấu rượt đuôi các nhân viên của quán Karaoke M nhưng Q cùng bàn bạc, chuẩn bị hung khí, chở Trần Xuân L và HI đến quán Karaoke M đề thực hiện hành vi phạm tội, nên Q đông phạm với Trần Xuân L và HI về hành vi cướp tài sản đối với số tiền 200.000 đồng. Tòa án cấp sơ thâm 3 LUẬT SƯ FDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 219 áp dụng điểm d (sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác) khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt Lê Xuân Q về tội “Cướp tài sản” là đúng pháp luật. [3] Sau khi XÉt XỬ SƠ thâm, Lê Xuân Q kháng cáo cho răng không phạm tội “Cướp tài sản”. Tòa án cấp phúc thâm nhận định Q và Trần Xuân L không phạm tội “Cướp tài sản” đối với số tiền 200.000 đồng, nhưng không tuyên bố Q không phạm tội “Cướp tài sản” và đình chỉ xét xử đối với Q, mà lại kết án Q vê tội “Không tố giác tội phạm” đối với hành vi cướp hai máy tính bảng của Trần Xuân L. Như vậy, Toà án cấp phúc thâm kết án Q về một hành vi chưa được điều tra, truy tố là vi phạm quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn của việc xét xử. [4] Quyết định giám đốc thâm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xác định Lê Xuân Q không phạm tội “Không tố giác tội phạm”, từ đó nhận định Toà án cấp phúc thâm kết án Q về tội này là không có căn cứ, cần hủy phần tội danh và hình phạt để xét xử phúc thắm lại. Tuy nhiên, Quyết định giám đốc thâm không định hướng cho Tòa án cấp phúc thâm phải xét xử Lê Xuân Q về tội nào, không nhận định về quyết định của bản án sơ thắm có căn cứ hay không là gây khó khăn cho Tòa án cấp phúc thâm khi xét xử lại. [5] Lê Xuân Q bị bắt giam từ ngày 30-9-2015, đến ngày 31-5-2016 đi chấp hành án tại Trại giam Bình Điền. Trong thời gian chấp hành án, Trại giam Bình Điền và Lê Xuân Q không nhận được Kháng nghị giám đốc thâm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cũng như Quyết định giám đốc thâm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân câp cao cao tại Đà Nẵng. Phần “Nơi nhận” của Kháng nghị và Quyết định giám đốc thấm không thể hiện có gửi cho Trại giam và Q. Do vậy, Trại giam Bình Điền đã giảm thời hạn chấp hành án cho Q và ngày 10-02-2018 Q đã chấp hành xong hình phạt 03 năm tù. Như vậy, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 28§ Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2003 về việc giao quyết định giám đốc thẩm. [6] Về mức hình phạt đối với Lê Xuân Q: Tòa án cấp sơ thâm kết án Lê Xuân Q về tội “Cướp tài sản” là đúng pháp luật, nhưng xử phạt Q mức hình phạt 7 năm tù về tội này là nặng so với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của Q gây ra. Khi xét xử phúc thâm lại, Tòa án nhân dân thành phó. Đà Nẵng cần xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của Q, đồng thời cân nhắc việc Q đã chấp hành xong mức hình phạt 03 năm tù theo quyết định của Bản án phúc thâm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 để quyết định mức hình phạt phù hợp đối với Lê Xuân Q. Vì các lẽ trên, QUYÉT ĐỊNH: Căn cứ vào Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015: 4 LUẬT SƯ FDVN 220 Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 1. Hủy Quyết định giám đốc thâm sỐ 38/2017/HS-GĐT ngày I§-9-2017 của Ủy ban Thâm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Bản án hình sự phúc thâm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về phần trách nhiệm hình sự đối với Lê Xuân Q. 2. Chuyên hỗ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đề xét xử phúc thâm lại theo đúng quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ “[I]... các bị cáo có hành vì dùng vũ lực tấn công bị hại để giải thoát cho đồng bọn, nhăm mục đích không trả số tiên mà bị cáo có nghĩa vụ phải thanh toán cho bị hại là có đủ yêu tô cầu thành tội “Cướp tải sản ”” C2 LUẬT SƯ EDVN Rdinegdikuẻ ieb: [drn.vn -fdrnlawBirimvm 221 LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 30/2020/AL VỀ HÀNH VI CỐ Ý ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAD THÔNG CHÈN LÊN BỊ HẠI SAU KHI GÂY TAI NẠN NỘI DUNG ÁN LỆ “[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Trong khi đang điều khiển xe ô tô phát hiện có việc va chạm, xảy ra tai nạn giao thông thì Q đã dừng xe lại để xuống kiểm tra, Khi Q nhìn thấy có một nạn nhân (sau này biết đó là em Hoàng Đức P) đang nằm ở phía trước hàng bánh phía sau xe ô tô về phía bên phải thì Q đã lên xe, điều khiển cho xe ô tô đi thẳng, nên hàng bánh sau xe ô tô của Q đã đè lên đầu, làm em P chết ngay tại chỗ. [3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như lời khai của người làm chứng gồm: bà Dương Thị H, anh Nguyễn Xuân H, chị Phạm Thị T, anh Hoàng Khánh C; cũng như Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định pháp y và đặc biệt là căn cứ vào chính lời khai của bị cáo Q ở giai đoạn ban đầu điều tra vụ án thì thấy: Trong quá trình điều tra vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, cũng như tại phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh và tại phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thì bị cáo đã khai: "Khi xuống kiểm tra thì tôi không chắc chắn nạn nhân đang nằm dưới gầm xe ô tô là còn sống, hay đã chết, vì thực tế lúc đó tôi cũng chưa có căn cứ để xác định được là nạn nhân đã chết, hay còn sống” (Bút lục 75); bị cáo @Q còn khai là mặc dù lúc đó bị cáo nhận thức được cho xe tiến lên, hay lùi lại thì cũng đều là rất nguy hiểm, vì nếu lùi xe thì thế nào bánh trước cũng sẽ tiếp tục đè lên người nạn nhân (Bút lục ó4, 65, 69). [4] Lời khai của bị cáo Phan Đình Q còn thể hiện: Khi xuống kiểm tra tôi thấy nạn nhân nằm sát về phía trước của hàng bánh sau xe ô tô, bánh xe ô tô chưa đè hẳn lên đầu người đó, bị cáo mới chỉ nhìn thấy nạn nhân đó nằm bất động về phía trước bánh xe ô tô ở hàng bánh sau phía bên phải (Bút lục ó1, 68, 85, 354, 356). Ngoài ra, bị cáo Q còn có nhiều lời khai khác: Mặc dù bị cáo nhận thức được lúc đó cho xe ô tô lùi lại, hay tiến lên thì cũng đều đè qua người nạn nhân và tôi nhận thức được như vậy, nhưng tôi vẫn chấp nhận cứ cho xe đè qua người nạn nhân (Bút lục 58, ó1, 64, 65, 69). [5] Như vậy, mặc dù bị cáo Q kháng cáo cho rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo không phạm tội “Giết người ” nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ căn cứ để khẳng định: Bị cáo Q đã có hành vi phạm tội “Giết người ” như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh là hoàn toàn có căn cứ pháp luật. Việc bị cáo Q luôn thay đổi lời khai và không nhận đã phạm tội “Giết người ” là chỉ để trốn tránh trách nhiệm hình sự trước pháp luật về tội nặng hơn tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ” mà thôi; do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ pháp luật để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, mà cần phải giữ nguyên tội danh “Giết người” đối với bị cáo như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm khẳng định: bị cáo Q không bị kết án sai tội danh như nội dung đơn kháng cáo của bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cũng như bào chữa của luật sư cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.” TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ Sau khi gây ra tai nạn giao thông cho bị Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu hại, bị cáo dừng xe xuống kiểm tra thấy trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”. bị hại nằm dưới gầm xe ô tô, không xác định được bị hại còn sống hay đã chết, bị í cáo tiếp tục điều khiển xe chèn lên người bị hại. Hậu quả là bị hại chết. __— d4 „ &) S) 7® Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn
Án lệ
Án lệ số 29/2019/AL về tài sản bị chiếm đoạt trong tội “Cướp tài sản”
Số hiệu: 29/2019/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2019
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.