FDVN LAW LIRM lôi tế ti lên hị sắn thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền ở Hữu. êhÍs tđún?: Ý Háp lcúa cá nhân Được Hội đồng Thẩm phản Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bồ theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thâm số 27/2015/DS-GĐT ngày 16-10-2015 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị HI, bà Phạm Thị H2 với bị đơn là ông Phạm Văn H3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 12 người. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 4 phần “Nhận định của Tòa án”. Khái quát nội dung án lệ: - Tình huỗng án lệ: Nhà, đất là tài sản chung của vợ chồng mà một người chết trước. Người còn lại và các thừa kế của người chết trước đã thống nhất phân chia nhà, đất. Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào. Việc phân chia nhà, đất đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên số sách giấy tờ về đất đai. Sau khi người còn lại chết mới phát sinh tranh chấp. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định nhà, đất đó đã chuyển thành quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Những người này chỉ có quyên khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia đi sản thừa kế là nhà, đất. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Các điều 219, 223, 226 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với các điều 213, 218, 220 Bộ luật Dân sự năm 2015). Từ khóa của án lệ: “Di sản thừa kế”; “Tài sản chung của vợ chồng”; “Phân chia nhà đất trên thực = z A3» tế”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Tại “Đơn khởi kiện đòi đất” đề ngày 30-6-2004 và các đơn yêu cầu, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Phạm Thị H, Phạm Thị H1, Phạm Thị H2 trình bày: Cha, mẹ các bà là cụ Phạm Văn H (chết năm 1978) và cụ Ngô Thị V (chết ngày 21-8-1994) có bảy con là ông Phạm Văn H3, ông Phạm Văn Ð (chết năm 1998), ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn Q (chết năm 2000) và các bà là Phạm Thị H, Phạm Thị HI, Phạm Thị H2. Sinh thời các cụ có gian nhà, g1an bếp trên khoảng 464m? đất tại thị trấn Q, tỉnh Hà Tây (cũ, nay thuộc thành phố Hà Nội). <4 LUẬT SƯ By 183 web: fvn vn - Năm 1991, cụ V đứng ra chia mảnh đất trên cho bảy con: Bốn con trai mỗi người I phần, còn I phần (có chiều ngang 3m giáp đường, diện tích 44,4m?) chia chung cho ba con gái (là các nguyên đơn). Ngay sau khi được chia, ông Ð đã bán lấy tiền vào tỉnh Sông Bé (cũ) sinh sống: ông T, ông Q đã nhận đất xây dựng nhà ở. Phần các bả được chia nằm liền với phần đất cụ V chia cho ông H3 (có chiều ngang 4m giáp đường). Riêng ông H3 lúc đó đã có nhà đất ở nơi khác nên ông cũng chưa sử dụng phần đất được chia. Thời điểm này các bà đang ở miền Nam nên ông H3 trông nom cả phần đất các bà được cụ V chia và đất của ông được chia, tổng diện tích hai phần là 110m? (chiều ngang 7m). Nhiều năm sau đó ông H3 vẫn thừa nhận là đất của các bà được chia ông trông nom. Năm 2002, khi các bà về sang cát cho mẹ, ông H3 vẫn đồng ý khi nào các bà đủ điều kiện thì về nhận đất xây nhà ở. Nhưng đến năm 2004, khi ba chị em có nhu cầu xây dựng nhà trên đất này thì ông H3 lại không thừa nhận là đất của ba chị em và ông đã chia đất cho con của ông là anh Phạm Văn L và chị Phạm Thị T, không trả đất cho các bà. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông H3 trả lại phần đất các bà đã được mẹ và anh chị em trong nhà thống nhất chia từ 1991; có lúc yêu cầu Tòa án giải quyết cho 3 chị em được hưởng thừa kế theo pháp luật bằng hiện vật là 44,4m? đất. Khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý sơ thâm lại vụ án vào năm 2010, các nguyên đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế di sản của các cụ là I15m” (thực đo 110m?) đang do ông H3 quản lý. Bị đơn là ông Phạm Văn H3 và lời khai người đại điện theo ủy quyền là chị Phạm Thị T trình bày: Ban đầu ông H3 có lời khai thừa nhận cha mẹ có khối tài sản nhà đất như các nguyên đơn trình bày và năm 1972, ông lập gia đình riêng được cha mẹ cho ở trên 162m? đất trong thửa đất của các cụ. Sau đó, bị đơn có lời khai khác, cho rằng 162m? đất này có nguồn gốc ông H3 và vợ là bà Nguyễn Thị N tự khai hoang đồ đất cải tạo hồ rác, ruộng rau muống thành nên nhà và sử dụng đến nay, không phải đất của cụ V,cụnH. Năm 1983, gia đình ông H3 đã chuyên nhà sang nơi khác ở, nhưng vẫn quản lý toàn bộ nhà đất của các cụ và nhà đất cũ của gia đình ông vì lúc này cụ V và các em đi Nam xây dựng kinh tế mới. Năm 1987, ông đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 210 diện tích 162m?. Năm 1988, cụ V về quê và đứng ra chia đất nhưng chỉ chia cho bốn người con trai mà không chia cho 3 con gái như các nguyên đơn trình bày. VỊ trí và diện tích chia cho ông Ð, ông T và ông Q và việc nhận đât sử dụng ông cũng thống nhất như nguyên đơn. Khi cụ V chia đất, ông đã đồng ý cắt bớt 52m? trong 162m? đất của ông cho ô ông Q nên ông chỉ còn 110m. Năm 2004, ông đã viết giấy cho hai con là anh L 65m2, chị T 45m” và đề nghị tách làm 2 thửa cho con nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận thì bà H, bà HI và bà H2 tranh chấp. Ông H3 cho rằng không có việc cụ V chia đất năm 1991 cho bà H, bả <4 ạLUẬT SƯEDVN web: fvn vn - 184 HI và bà H2 như nguyên đơn trình bày. Các nguyên đơn khởi kiện là đã hết thời hiệu về thừa kế, 110m” đất là của ông và không đông ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị Phạm Thị T, anh Phạm Văn L có ý kiến trình bày như ông H3. Chị TŠ xác định năm 2003 đã làm l1 gian nhà trên phần đất nguyên đơn đòi lại. Ông Phạm Văn T trình bảy: Nguồn gốc nhà đất như các nguyên đơn trình bày. Xác nhận năm 1991, cụ V tổ chức họp gia đình và thống nhất chia đất (chia miệng) cho các con, trong đó 3 con gái được chia chung một phân và phần này ông H3 quản lý cùng phần ông H3 được chia. Ông xác nhận đã nhận phần đất được chia, sau đó cũng đã chuyển nhượng một phần cho người khác. Ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông H3 trả đất cho ba chị em gái. Bà Nguyễn Thị T cùng các con chung với ông Phạm Văn Ð; bà Phùng Thị H4 cùng các con chung với ông Phạm Văn Q, xác nhận cụ V có chia đất cho các con, nhưng các bà T và bà H4 là con dâu không được tham gia nên không biết rõ việc chia này. Bà T xác nhận phần đất ông Ð được chia, sau đó ông đã bán luôn đề lấy tiền đi Nam. Bà H4 xác nhận phần ông Q được gia đình bà sử dụng làm nhà ở đến nay. Do ông Ð, ông Q đã được chia đất nên bà T, bà H4 và các con không có yêu cầu gì trong vụ án này. Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý sơ thâm lại vụ án vào năm 2010, ông T và các thừa kế của ông Ð, ông Q đều trình bày không có yêu cầu gì trong 110m? đất mà nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế, đều thông nhất cho ba nguyên đơn và ông H3 hưởng phần thừa kế của ông T, ông Ð, ông Q trong khối tải sản tranh chấp 110m” này. Vụ án đã qua các lần xét xử sơ, phúc thẩm như sau: - Bản án dân sự sơ thâm số 07/2005/DSST ngày 07-7-2005 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (cũ); - Bản án dân sự phúc thâm số 126/2005/DSPT ngày 30-11-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ); Quyết định Giám đốc thâm số 106/2007/DS-GĐT ngày 23-4-2007 của Tòa dân sự (cũ) Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận Kháng nghị số 23/2007/KN-DS ngày 02-3-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy Bản án sơ thâm và Bản án phúc thâm, giao Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết sơ thâm lại. - Bản án dân sự sơ thâm số 01/2009/DSST ngày 07-01-2009 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oal; - Bản án dân sự phúc thâm số 87/2009/DSPT ngày 02-4-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã hủy bản án sơ thâm để giải quyết lại. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có Quyết định chuyên hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để giải quyết sơ thẩm. <4 ạLUẬT SƯEDVN web: fvn vn - 185 - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có Quyết định số 41/2010/QĐÐST-DS ngày 20-7-2010 đình chỉ việc giải quyết vụ án; - Tại Quyết định số 183/2010/QĐ-PT ngày 19-11-2010, Tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội (cũ) hủy quyết định sơ thâm nêu trên, giao hồ sơ cho Tòa án nhân thành phố Hà Nội ¡giải quyết sơ thâm lại; - Bản án dân sự sơ thâm số 24/2013/DSST ngày 30, 31-5-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: 1. Chấp nhận yêu câu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị H, Phạm Thị HI, Phạm Thị H2. 2. Xác định quyền sử dụng thửa đất 252 tờ bản đô số 2 có diện tích 110m tại thị trần Q - Hà Nội là tài sản của cụ Ngô Thị V, cụ Phạm Văn H có giả trị 1.321.200.000 đồng. Chia giá trị tài sản chung của cụ V và cụ H mỗi người 1/2 giả trị tài sản là 660.600.000 đồng. Phần tài sản của cụ H là quyên sử dụng 55mˆ đất có giá trị 660.600.000 đồng đã hết thời hiệu chia thừa kế. Phân tài sản của cụ V là quyên sử dụng 55m2 đất có giá trị 660.600.000 đồng. Chia cho ông H3, bà H, bà H2, bà H1 mỗi kỷ phân được hưởng là 120.120.000 đồng. Chia cho ông H3 được sở hữu phần tài sản có giá trị 240.240.000 động; Chia cho bà H, bà H2, bà HI mỗi người được hưởng phân tài sản có giá trị 120.120.000 đồng, tổng 360.360.000 động. Chia cho bà H, bà HI, bà H2 được sử dụng nhà cấp 4 năm trên thửa đất số 252 tờ bản đô số 2 thị trấn Q, Hà Nội có diện tích 44,4mˆ có giá trị 532.800.000 đồng, có sơ đô kèm theo. Chia cho ông Phạm Văn H3 được quyển sử dụng 10, 7m2 đất, ông H3, chị T, anh H tiếp tục quản Ùý diện tích 55m? đất thuộc quyền sử dụng của cụ H do bị hết thời hiệu trên thửa đất số 252 tờ bản đô số 02 thị trấn Q (có sơ đô kèm theo) đến khi nào có quyết định khác của các cơ quan nhà nước có thẩm quyên. Ông H3, chị T, anh H được sở hữu giá trị xây dựng ngôi nhà 2 tầng, 1 tum có giá trị 300.000.000 đồng năm trên 65,7mˆ đất tại thửa đất 252 tờ bản đồ số 02 thị trần Q Hà Nội (có sơ đồ hèm theo). Ông H3 được nhận 172.440.000 đồng, chị T, anh H được nhận 20.000.000 đồng tiền sửa chữa cải tạo cho chị do bà H, bà HI và bà H2 thanh toán. Bà H, bà HI và bà H2 có trách nhiệm thanh toán cho ông H3 số tiền 172.440.000 đồng và 20.000.000 đồng tiên sửa chữa cải tạo cho chị T và anh H. Hủy giấy chứng nhận quyễn sử dụng đất do Ủy ban nhán dán huyện Quốc Oai cấp ngày 10-9-1987 đối với thửa đất số 210 tờ bản đồ số 2 có diện tích 162m? đứng tên ông Phạm Văn H3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị T và các con: Phạm Thị Thu T2, Phạm Thị Thu 13, Phạm Thị Thanh 14; bà Phùng Thị H4, các \<¿2 yLUẬT SƯEDVN web: fvn vn - 186 con là Phạm Thị H5, Phạm Đức H, Phạm Đức M đêu từ chối không nhận đi sản, không yêu câu về quyên lợi đổi với diện tích 110m” đất tại thửa đất số 252 tờ bản đô số 2 thị trấn Q - Hà Nội của cụ V và cụ H. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn H3, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị HI, ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị T và các con là Phạm Thị Thu 12, Phạm Thị Thu T3, Phạm Thị Thanh T4, bà Phùng Thị H4, các con là Phạm Thị H5, Phạm Đức H, Phạm Đức M: + Không yêu câu Tòa án giải quyết tài sản trên đất của cụ V và cụ H là 4 gian nhà tranh vách đất; + Không yêu câu Tòa án giải quyết về chỉ phí mai tảng phí; + Không yêu câu về quyên lợi đối với thửa đất số 253 mang tên Phạm Văn ©, thửa đất số 261 mang tên Phạm Văn T (diện tích 189m, bao gôm cả thửa 261b), thứa 260 diện tích 94m? mang tên Nguyễn Thị P. + Không yêu cầu Tòa án giải quyết việc ông T, ông Ð đã chuyển nhượng đất cho người khác; + Không yêu cấu Tò òa ín giải quyết đối với khoản tiễn 8.733. 000 đồng. Bản án còn có quyết định về án phí, quyền kháng cáo, lãi suất chậm thi hành án. Ngày 14-6-2013, chị T, anh H và anh L kháng cáo. Tại Bản án dân sự phúc thâm số 53/2014/DSPT ngày 04-4-2014, Tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 19-8-2014, ông Phạm Văn H3 có đơn đề nghị giám đốc thẩm. Tại Kháng nghị số 152/2015/KN-DS ngày 28-5-2015, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thâm 53/2014/DSPT ngày 04-4-2014 của Tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thấm theo hướng huỷ Bản án dân sự phúc thâm số 53/2014/DSPT ngày 04-4-2014 của Tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án dân sự sơ thắm số 24/2013/DSST ngày 30, 31-5-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thâm lại. Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Cụ Phạm Văn H (chết năm 1978) và vợ là cụ Ngô Thị V có 7 con chung là ông Phạm Văn H3, ông Phạm Văn Ð (chết năm 1998), ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn Q (chết năm 2000), bà Phạm Thị H, Phạm Thị H1, Phạm Thị H2. Sinh thời các cụ có tạo lập được gian nhà tranh vách đất trên khoảng 464mˆ” đất tại phố H, thị trấn Q, tỉnh Hà Tây (cũ, nay là thành phố Hà Nội). Đất có nguồn gốc các cụ được chia trong cải cách ruộng đất. <4 ạLUẬT SƯEDVN web: fvn vn - 187 [2] Sau khi cụ H chết, vợ chồng ông H3, bà N ở và trông nom nhà đất, còn cụ V và những người con khác đi xây dựng kinh tế mới Ở Miền Nam. Năm 1983, vợ chồng ông H3 chuyên đến nhà đất nơi khác ở nhưng vẫn trông nom quản lý nhà, đất. Ủy ban nhân dân huyện Q xác nhận số sách địa chính lưu giữ tại Ủy ban nhân dân cho thấy mảnh đất của các cụ được chia làm 2 thửa, một thửa mang số 210 diện tích 162m” do ông H3 đứng tên và thửa 213 diện tích 300m” do ông T đứng tên. Sau đó, cụ V quay về nhà đất này và ở tại đây cho đến khi qua đời vào năm 1994. Sau khi về, cụ đã họp các con và đứng ra phân chia toàn bộ thửa đất thành bốn phần riêng biệt cho các con, không ai có ý kiến gì và đều thống nhất thực hiện việc phân chia này. Như vậy, việc ông T, ông H3 đồng ý cùng với cụ V chia 464m” đất đã thê hiện việc ông T, ông H3 chỉ là người đứng tên trong giấy tờ số sách giấy tờ về địa chính, nhà đất vẫn là của cụ V, cụ H chưa chia. Ông H3 cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh 162m” là tài sản riêng của ông. [3] Phần chia cho ông Ð (94m?), ông Q (78m2), ông T (189m?), các ông đều đã nhận đất sử dụng sau đó đã được đăng ký đứng tên chủ sử dụng đất, hoặc chuyên nhượng cho người khác thì cũng đã đăng ký điều chỉnh trong các giấy tờ về đất, cho đến nay không ai có tranh chấp gì. Đối với phần đất 1 10m” còn lại đà phần có 7m ngang mặt đường) do ông H3 quản lý, đến năm 2004 do ông chia đất cho các con của mình nên bà H, bà HI, bà H2 mới có tranh chấp đòi lại 44,4m”. Thực tế thời điểm cụ V chia đất, các con đều đã trưởng thành, một SỐ có gia đình riêng có nhu cầu về đất ở, riêng ông H3 đã có nhà đất; bà H, bà HI và bà H2 đang ở Bình Phước nên bốn người này chưa có nhu cầu xây dựng nhà ở. Ông T thừa nhận việc cụ V chia đất, tất cả các con đều đồng ý và ông T xác định phân đất 110m? do ông H3 quản lý là cụ V chia cho ông H3 và bà H, bà HI và bà H2. Ông T đề nghị Tòa án giải quyết đề bà H, bà H1, bà H2 được nhận lại tài sản của mình. Vợ của ông Ð, ông Q là bà T, bà H4 và các con của ông Ð, ông Q, tuy không biết cụ thể việc phân chia nhưng đều thống nhất là cụ V đã chia đất xong cho các con rồi nên các bà không có yêu cầu gì và phần 110m” để cho ông H3, bà H, bà H2 hưởng phần đất này. Do đó, có đủ cơ sở xác định cụ V có chia đất cho bà H, bà H1 và bà H2 và phần đất này ông H3 quản lý. [4] Với các chứng cứ trên, đủ cơ sở xác định nhà đất của cụ V, cụ H đã được cụ V và các thừa kế của cụ H thống nhất phân chia tài sản chung xong từ năm 1991 và đủ cơ sở xác định phần đất 110m? trong đó phần bà H, bà HI và bà H2 là 44,4m?. Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên số sách giấy tờ về đất đai; thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nảo, không ai tranh chấp nên có cơ sở xác định nhà, đất không còn là di sản thừa kế của cụ V, cụ H nữa mà đã chuyền thành quyền sử dụng đất hợp pháp của các cá nhân. Vì vậy, bà H, bà HI, bà H2 chỉ có quyền khởi kiện đòi lại 44,4m? đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp do được chia từ năm 1991; tài sản là đi sản thừa kế của cha mẹ không còn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu chia di sản của cụ H, cụ V nữa. <4 ạLUẬT SƯEDVN web: fvn vn - 188 [5] Đơn khởi kiện ban đầu và các lời khai trước khi Tòa án cấp sơ thâm thụ lý lại vụ án vào năm 2010, các nguyên đơn chỉ đòi lại 44,4m7 đất này. Nhưng sau khi thụ lý sơ thẩm lại vụ án, các nguyên đơn lại thay: đổi lời khai, yêu cầu chia di sản thừa kế phần 110m? đất là tài sản của cha, mẹ để lại đang do ông H3 quản lý, là không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thắm không làm rõ lời khai đương sự về việc thay đổi yêu câu khởi kiện này, quyết định chấp nhận yêu cầu chia thừa kế 110m? đất; Tòa án cấp phúc thấm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thâm, đều không có cơ sở. Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297 và khoản 2 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 201L); QUYÉT ĐỊNH: Hủy Bản án dân sự phúc thấm số 53/2014/DSPT ngày 04-4-2014 của Tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án dân sự sơ thâm số 24/2013/DS- ST ngày 31-5-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị HI với bị đơn là ông Phạm Văn H3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thấm lại theo đúng quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ “14]...nhà đất của cụ Ứ, cụ H đã được cụ V và các thừa kế của cụ Hthống nhất phân chia tài sản chung xong từ năm 1991 và đủ cơ sở xác định phân đất 110m! trong đó phân bà H, bà HI và bà H2 là 44,4m”. Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên số sách giấy tờ về đất đai; thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không ai tranh chấp nên có cơ sở xác định nhà, đất không còn là di sản thừa kế của cụ V, cụ H nữa mà đã chuyển thành quyển sử dụng đất hợp pháp của các cá nhân. Vì vậy, bà H, bà HI, bà H2 chỉ có quyên khởi kiện đòi lại 44,4m2 đất thuộc quyên sử dụng hợp pháp do được chia từ năm 199]; tài sản là di sản thừa kế của cha mẹ không còn nên không có cơ sở chấp nhận yếu câu chia di sản của cụ H, cụ V nữa. ” <4 ạLUẬT SƯ By 189 web: fvn vn - LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 25/2018/AL VỀ KHÔNG PHẢI CHỊU PHẠT CỌC VÌ LÝ DD KHÁCH QUAN NỘI DUNG ÁN LỆ “[II..Tại Điều 5 của hợp đồng đặt cọc có nêu, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, bà H phải hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà nêu trên, sau đó sẽ ký hợp đồng mua bán có công chứng; nếu vi phạm thời hạn nêu trên, bà H chịu phạt số tiền tương đương với tiền cọc là 2.000.000.000 đồng. Hết thời hạn trên, bà H không thực hiện đúng cam kết, nên ông L khởi kiện yêu cầu bà H trả lại tiền cọc 2.000.000.000 đồng và phạt cọc 2.000.000.000 đồng. [3]..tại thời điểm ông L đặt cọc 2.000.000.000 đồng cho bà Trương Hồng Ngọc H, bà H đã nhận nhà nhưng chưa làm thủ tục sang tên do cơ quan thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý toàn bộ giấy tờ có liên quan đến căn nhà... [4]...Nếu có căn cứ xác định cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà H thì lỗi dẫn tới việc bà H không thể thực hiện đúng cam kết với ông L thuộc về khách quan, và bà H không phải chịu phạt tiền cọc...” TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ b\ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ Ặ v„ II Hợp đồng đặt cọc để bảo đảm giao kết | Trường hợp này, phải xác định việc hợp đồng mua bán nhà có thỏa thuận bên nhận đặt cọc không thể thực hiện trong một thời hạn nhất định bên nhận đúng cam kết là do khách quan và bên đặt cọc phải hoàn tất các thủ tục để được nhận đặt cọc không phải chịu phạt cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, | cọc. nếu vi phạm thì phải chịu phạt cọc. Hết thời hạn theo thỏa thuận, bên nhận đặt cọc chưa được cấp giấy chứng nhận 1... L 3 quyền sở hữu nhà do nguyên nhân từ 1qữ phía cơ quan nhà nước có thầm quyền. ” II II = Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn
Án lệ
Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân
Số hiệu: 24/2018/AL
- Cơ quan ban hành
- —
- Ngày ban hành
- 1/1/2018
- Ngày hiệu lực
- —
- Người ký
- —
Bản scan án lệ (PDF)
Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.
Luật Trí AI
Hỏi Luật Trí về văn bản này
Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.