Án lệ

Án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng

Số hiệu: 16/2017/AL

Cơ quan ban hành
Ngày ban hành
1/1/2017
Ngày hiệu lực
Người ký
Còn hiệu lựcÁn lệ

FDVN LAW FIRM ML: FếA (4401rTât vệ rô ông nhận hợp. đồng chuyển nhượng quyền sử { d lót rong các đồng thừa kế chuyển nhượng Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân lối cao. Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thâm số 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế tài sản” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa nguyên đơn là chị Phùng Thị HI, chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P với bị đơn là anh Phùng Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị Phùng Thị N2, chị Phùng Thị H2. Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 2 phần “Nhận định của Toà án”. Khái quát nội dung của án lệ: - Tình huống án lệ: Di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuyên nhượng. Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối VIỆC chuyên nhượng đó. Số tiền nhận chuyên nhượng đã được dùng để lo cuộc sông của các đồng thừa kế. Bên nhận chuyên nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. - Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyên nhượng quyên sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Khoản 2 Điều 170, Điều 234, Điều 634, Điều 697 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương đương với khoản 2 Điều 221, Điều 223, Điều 612, Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015). Từ khóa của án lệ: “Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận”; “Di sản”; “Di sản thừa kế là bất động sản”; “Đồng thừa kế”; “Chuyên nhượng quyên sử dụng đất”. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo đơn khởi kiện ngày 02-4-2011 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phùng Thị HI, chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị H2 trình bày: Bồ mẹ nguyên đơn là ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G sinh được 06 người con là: Phùng Thị NI, Phùng Thị N2, Phùng Thị H2, Phùng Văn T, Phùng Thị P, Phùng Thị HI. Tài sản chung của ông Phùng Văn N và bả Phùng Thị G là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m” ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc, nguồn gốc đất do cha ông để lại. Ngày 07-7-1984 ông Phùng Văn N chết (trước khi chết không để lại di chúc) bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất trên. Năm 1991 bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K một phần diện tích đất trên với diện tích đất là 131m2, còn lại điện tích 267m”, năm 1999 bà Phùng Thị G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Phùng Thị G muốn cho con gái là | LUẬT SƯ EDVN Rdisegeàuả 'WoEhb: ẨYTLVH - fdrnlawRirm.vn 121 chị Phùng Thị HI một phần diện tích đất của bà để làm nhà ở vì hoàn cảnh của chị Phùng Thị HI đi lẫy chồng Ở Xa, chồng chết nên bả muốn chị về ở cùng, nhưng anh Phùng Văn T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà Phùng Thị G không tách đất cho chị Phùng Thị HI được. Vì vậy, chị khởi kiện ra Tòa án buộc anh Phùng Văn T trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phùng Thị G. Tòa án đã xử buộc anh Phùng Văn T phải trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phùng Thị G nhưng anh Phùng Văn T không trả. Vì vậy tháng 3-2010 bà Phùng Thị G đã lập di chúc với nội dung: Để lại cho chị Phùng Thị HI diện tích đất 90m7 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích đất có các chiều cạnh: Phía Đông giáp diện tích đất của bà Phùng Thị G, phía Tây giáp nhả ông N, phía Nam giáp đường T, phía Bắc giáp nhà anh C. Khi lập di chúc bà Phùng Thị G hoàn toàn minh mẫn khỏe mạnh, có người làm chứng và di chúc đó đã được Ủy ban nhân dân phường M chứng thực. Toản bộ diện tích 398m” là của bà Phùng Thị G vì khi ông Phùng Văn N chết thì bà Phùng Thị G được toàn quyên sử dụng. Ngày 19-12-2010 bà Phùng Thị G chết, toàn bộ khối tài sản trên vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng. Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc bà Phùng Thị G để lại cho chị Phùng Thị HI là 90m2, phần còn lại là 177m? đề nghị chia theo pháp luật, kỷ phần thừa kế của chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị H2 nhường cho chị Phùng Thị HI sử dụng. Ngoài ra tài sản cây cối trên đất và phần diện tích đất nông nghiệp của bà Phùng Thị G các nguyên đơn không đề nghị Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Phùng Văn T do chị Phùng Thị H3(là vợ) đồng thời là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trình bảy: chị xác nhận mối quan hệ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, tài sản bố mẹ để lại là diện tích đất 398m? ở tại khu L, phường M, thành phó N và thời gian bố mẹ chết như các nguyên đơn trình bày là đúng nhưng toàn bộ công trình xây dựng trên đất là do vợ chồng anh chị xây dựng năm 1997. Năm 1991 bà Phùng Thị G tự ý bán 131m” cho ông Phùng Văn K không bàn bạc với anh Phùng Văn T, được bao nhiêu tiền bà sử dụng vào việc gì anh Phùng Văn T không biết. Đến năm 1999 bà Phùng Thị G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích còn lại là 267.4m”, ông Phùng Văn K cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mua của bà Phùng Thị G. Khi bà Phùng Thị G còn sống có lập di chúc hay không anh chị không biết. Nay các chị em trong gia đình khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, quan điểm của anh Phùng Văn T không đồng ý vì bố mẹ anh chỉ có một mình anh là con trai nên anh sử dụng để ở và thờ cúng tô tiên, không đồng ý phân chia thừa kế. Ngoài ra bà Phùng Thị G còn có diện tích đất nông nghiệp nhưng anh Phùng Văn T không đề nghị phân chia thừa kế. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phùng Thị N2 trình bày: chị xác nhận mối quan hệ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, tài sản bố mẹ để lại diện tích đất 398m” ở tại khu L, phường M, thành phố N và thời gian bố mẹ chết như các nguyên đơn trình bày là đúng. 'Đến năm 1991 mẹ chị đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m, khi chuyển nhượng các chị 2 LUẬT SƯ EDVN Rdisegeàuả 'WoEhb: ẨYTLVH - fdrnlawRirm.vn 122 đều biết việc này, nhưng số tiền bao nhiêu chị không biết, chỉ biết mẹ chị đã dùng số tiền đó để trang trải nợ nần và nuôi các con. Còn lại diện tích 267,4m? đến năm 1999 mẹ chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phùng Thị G mà hiện nay anh Phùng Văn T đang sử dụng quản lý. Khi mẹ chị còn sống có lập di chúc hay không chị không biết nay các chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị HI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P yêu cầu chia thừa kế diện tích đất trên chị không đồng ý vì bố mẹ chị chỉ có anh Phùng Văn T là con trai nên phải để anh Phùng Văn T ở và thờ cúng. Nếu Tòa án giải quyết phân chia thừa kế theo pháp luật kỷ phần thừa kế của bà, chị không nhận mà nhường cho anh Phùng Văn T được hưởng. Với nội dung vụ án như trên; Tại Bản án dân sự sơ thâm số 11/2011/DSST ngày 04-10-2011 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định: - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị HI, buộc anh Phùng Văn T phải có trách nhiệm thanh toán cho chị Phùng Thị HI tổng số tiền là 340.000.000đ (trị giá 68m? đất). Giao anh Phùng Văn T được sử dụng diện tích đất 68m? tại tờ bản đồ số 32, số thửa 81 ở khu phố khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc (có tứ cận). - Không chấp nhận yêu cầu của chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P khởi kiện chia thừa kế tài sản của bà Phùng Thị G theo pháp luật. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thâm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thấm, ngảy 18-01-2011 các nguyên đơn chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị HI kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thấm, đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Tại Bản án dân sự phúc thâm số 06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quyết định: sửa Bản án dân sự sơ thâm số 11/2011/DSST ngày 4-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên. - Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị HI, chị Phùng Thị P. - Giao cho anh Phùng Văn T và người đại diện theo pháp luật của anh Phùng Văn T là chị Phùng Thị H3 diện tích 267,4m2, trị giá 1.337.000.000đồng số thửa 81, tờ bản đồ số 32 ở khu phố L, phường M, thành phó N. - Anh Phùng Văn T và người đại diện theo pháp luật của anh Phùng Văn T là chị Phùng Thị H3 có trách nhiệm thanh toán trị giá phần thừa kế cho chị Phùng Thị HI là 982.200.000 đồng. Kế từ ngày chị Phùng Thị HI có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Phùng Văn T và người đại diện theo pháp luật của anh Phùng Văn T là chị Phùng Thị H3 không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng anh Phùng Văn T, chị Phùng Thị H3 còn phải chịu lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thâm còn quyết định về án phí. LUẬT SƯ EDVN Rdisegeàuả 'WoEhb: ẨYTLVH - fdrnlawRirm.vn 123 Sau khi xét xử phúc thâm chị Phùng Thị H3, anh Phùng Văn T có đơn yêu cầu xem xét lại bản án dân sự phúc thâm nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Tại Quyết định số 131/QĐÐ-KNGĐT-V5 ngày 12-11-2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tôi cao đối với Bản án dân sự phúc thâm số 06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; với nhận định: Tòa án cấp phúc thâm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thâm xác định đi sản là tổng diện tích đất 398m? (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng. Tuy nhiên, diện tích 267m” đất đứng tên bà Phùng Thị G phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ô ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia. Bà Phùng Thị G chỉ có quyên định đoạt ⁄2 diện tích đất trong tông diện tích 267m? đất chung của vợ chồng bà là 133,5m? — 90m? (đã cho chị Phùng Thị HI) còn lại là 43,5m” được chia cho 5 thừa kế. Đối với 1⁄2 điện tích đất trong tổng diện tích 267m? đất chung của vợ chồng là phần di sản của ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, anh Phùng Văn T đang quản lý thì được tiếp tục quản lý. Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 267m? đất là di sản của bà Phùng Thị G để chia theo di chúc cho chị Phùng Thị HI 90m? đất và phần đất còn lại 177,4m” chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [I]J Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì diện tích 398m? đất tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố N, Vĩnh Phúc có nguồn gốc là tài sản chung vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G. Ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G có 06 người con chung là chị Phùng Thị HI, chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, anh Phùng Văn T, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị N2. Ngày 07-7- 1984 ông Phùng Văn N chết không để lại di chúc, bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất trên. [2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131mF trong tổng diện tích 398m? của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m”. Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m”, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này. Việc bà Phùng Thị G chuyên nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống. của bà và các con. Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bả Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m nêu trên cho ông Phùng Văn K. Tòa án cấp phúc thâm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông 4 LUẬT SƯ EDVN Rdisegeàuả 'WoEhb: ẨYTLVH - fdrnlawRirm.vn 124 Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thâm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m” (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng. [3] Ngày 19-12-2010 bà Phùng Thị G chết, trước khi chết bà đã để lại di chúc lập ngày 05-3-2009 có nội dung để lại cho chị Phùng Thị HI (con gái bà Phùng Thị G) diện tích 90m? đất trong tông diện tích 267m)? đất trên, di chúc có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày 7-3-2009. Tuy di chúc được lập và chứng thực không cùng ngày qua ý kiến của Ủy ban nhân dân phường và lời khai của những người làm chứng trong di chúc thì có căn cứ để xác định bà Phùng Thị G lập di chúc khi còn minh mẫn và nội dung di chúc theo ý nguyện của bà Phùng Thị G nên Tòa án hai cấp chấp nhận di chúc là có lý, có tình. [4] Tuy nhiên, diện tích 267m” đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia. Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1⁄2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m? đất chung của vợ chồng bà. Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G đề lại là 1⁄2 khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho chị Phùng Thị HI (con gái bà Phùng Thị G) là 90m7, còn lại là 43,5m? được chia cho 5 kỷ phần còn lại (trong đó chị N2 nhường kỷ phần thừa kế cho anh Phùng Văn T; chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị NI và chị Phùng Thị P nhường kỷ phần cho chị Phùng Thị HI). Đối với 1⁄2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m? đất chung của vợ chồng là phần di sản của ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, anh Phùng Văn T là một trong các thừa kế không đồng ý chia, theo quy định tại tiêu mục 2.4 mục 2 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng. [5] Tòa án cấp phúc thâm xác định toàn bộ diện tích 267m? đất là di sản của bà Phùng Thị G để chia theo di chúc cho chị Phùng Thị HI 90m” đất và phân đất còn lại 177,4m” chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng. [6J Ngoài ra, anh Phùng Văn T không kháng cáo nhưng Tòa án lại tuyên anh Phùng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thâm. Chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P tự nguyện nhường kỷ phần của các chị cho chị Phùng Thị HI và được Tòa chấp nhận, chị Phùng Thị HI là hộ nghèo được miên toàn bộ án phí nhưng Tòa cấp phúc thâm không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thâm cho chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P đều là không đúng. Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là có căn cứ chấp nhận. Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự; QUYÉT ĐỊNH: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thâm số 06/2012/DSPT ngày 23-02-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-ST ngày 04-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ 5 LUẬT SƯ EDVN Rdisegeàuả 'WoEhb: ẨYTLVH - fdrnlawRirm.vn 125 án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn chị Phùng Thị HI, chị Phùng Thị NI, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P với bị đơn là anh Phùng Văn T và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị Phùng Thị N2, chị Phùng Thị H3. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thâm lại theo quy định của pháp luật. NỘI DUNG ÁN LỆ “[2] Năm 1991, bà Phùng Thị GŒ chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m” trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phân diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m?. Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị Œ cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lÿ sử dụng nhà đất này. Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đếu biết, nhưng không ai có ÿ kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị Œ có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con. Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị GŒ đã đông ÿ để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích I13lmˆ nêu trên cho ông Phùng Văn K. Tòa án cấp phúc thấm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng điện tích đất 398m? (bao gôm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng. ” c5 LUẬT SƯ EDVN 126 RdlsegeLkuả web: fdvn.vn - fdrnlawEirmvm LUẬT SƯ FDVN FEEL FREE TO GO WITH THE TRUTH TỔNG LƯỢC ÁN LỆ ÁN LỆ SỐ 17/2018/AL VỀ TÌNH TIẾT “CÓ TÍNH CHẤT CÔN ĐỒ” TRONG TỘI “GIẾT NGƯỜI” CÚ ĐỒNG PHẠM NỘI DUNG ÁN LỆ “[] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Sau khi chứng kiến việc bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Dương Quang Q đánh, Nguyễn Văn H là người trực tiếp gọi điện báo cho Trần Quang V biết việc ông H bị đánh. Trong lúc ăn nhậu cùng V và Phạm Nhật T vào tối ngày19-01-2015, biết V và T có ý định đi đánh ông Q để trả thù, H nói “Ba bị đánh thương lắm, chừ còn đau”, làm củng cố ý thức, quyết tâm của V trong việc đi đánh ông Q. H cũng là người chỉ nơi ở, đặc điểm nhận dạng của ông Q cho V và T biết để V và T có thể thực hiện hành vi đánh ông Q. Khi nghe V và T bàn bạc kế hoạch đi đánh ông Q, H không can ngăn mà còn nói “Nếu đánh thì đánh dẫn mặt thôi”, thể hiện sự thống nhất ý chí về việc đánh ông Q. Sau đó, H bỏ về trước. Thực tế, Trần Quang V đã dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay ông Q làm ông Q gục ngay tại chỗ. Do mọi người can ngăn và được đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông Q không chết là ngoài ý muốn chủ quan của V. Sau khi chém ông Q, V đã gọi liên tiếp ba cuộc điện thoại cho H để hỏi về thương tích của ông Q. Mặc dù, H không biết trước việc V dùng mã tấu chém liên tiếp vào những vùng trọng yếu trên cơ thể ông Q, có thể tước đoạt tính mạng của ông Q nhưng H đã thống nhất ý chí với V và T trong việc đánh ông Q, chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H đồng phạm với Trần Quang V và Phạm Nhật T về tội “Giết người” là có căn cứ. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” là không đúng, bởi vì: Trong vụ án này Trần Quang V và Phạm Nhật T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh ông Q; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với các con của ông Q mà V và T đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Q nên chỉ hành vi phạm tội của V và T “Có tính chất côn đồ”, còn Nguyễn Văn H không trực tiếp tham gia đánh ông Q mà giúp sức cho V và T trong việc đánh ông Q nên hành vi phạm tội của H không “Có tính chất côn đồ” mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.” TINH HUƠONG PHADP LY “` CLAI PHAP PHAP LY II Trong vụ án có đồng phạm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, các đồng phạm đã rủ nhau đánh dẫn mặt bị hại. Khi thực hiện tội phạm, người thực hành dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” mặt, chân, tay của bị hại, việc bị hại không nhưng không bị áp dụng tình tiết định chết là ngoài ý muôn chủ quan của người khung “Có tính chất côn đề”, thực hành. O-: O Người xúi giục không có mặt khi người thực C= hành thực hiện tội phạm, không biết việc *⁄⁄ người thực hành sử dụng mã tấu chém vào \ ZN Trường hợp này, người thực hành phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ”. Người xúi giục bị truy cứu những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra. Emaơil: [email protected] fdvn.vn | fdvnlawfirm.vn | diendanngheludot.vn

Bản scan án lệ (PDF)

Phần văn bản phía trên được trích xuất tự động từ tài liệu scan này.

Luật Trí AI

Hỏi Luật Trí về văn bản này

Giải thích điều khoản bằng ngôn ngữ đơn giản, đối chiếu với luật cũ và áp dụng vào vụ việc của bạn — mỗi câu trả lời đều kèm trích dẫn điều luật. Đăng nhập để bắt đầu.